Hoãn áp dụng cách phân loại nợ xấu mới đến 01/6/2014

Ngày 27/05, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-NHNN sửa đổi một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Thời gian hiệu lực thi hành quy định tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 02 sẽ được điều chỉnh từ ngày 01/06/2013 sang ngày 01/06/2014.

Theo phân tích của NHNN, việc điều chỉnh thời gian có hiệu lực của Thông tư 02 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn ngân hàng, hỗ trợ thúc đẩy tín dụng cho nền kinh tế, giảm mặt bằng lãi suất cho vay và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đồng thời giúp cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thêm thời gian chủ động xây dựng lộ trình thực hiện và chuẩn bị các điều kiện áp dụng đầy đủ Thông tư 02.

Trong khoảng thời gian 1 năm đến khi Thông tư 02 có hiệu lực thi hành, các TCTD và ngân hàng nước ngoài vẫn phải tích cực, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu, xử lý nợ xấu theo Đề án tái cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015 và Đề án xử lý nợ xấu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trước đó, tại buổi tham vấn và trao đổi thông tin với báo chí do NHNN tổ chức chiều ngày 8/5, TS. Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN khẳng định: Việc ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 02) là một bước tiến quan trọng trong việc đánh giá chính xác tín dụng của các TCTD. Tuy nhiên, lộ trình triển khai cần có sự cân nhắc thận trọng, tránh gây sốc cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vay nợ cũng như các ngân hàng cho vay đang gặp khó khăn.

Đứng về phía doanh nghiệp, TS. Cao Sĩ Kiêm cho rằng: Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những điểm nghẽn, đặc biệt là tình trạng doanh nghiệp phá sản chưa có dấu hiệu dừng lại mà một trong những nguyên nhân là do doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay. Nếu cứ phân loại “thẳng thừng” thì nợ xấu tăng lên nhanh, kéo theo tỷ lệ phải trích lập dự phòng rủi ro tương ứng, đồng nghĩa với việc nguồn vốn tín dụng bị giảm đi, doanh nghiệp càng khó tiếp cận vốn. Đòn này sẽ “giáng” một cú rất mạnh vào các doanh nghiệp...

(T.Hương)