Khơi thông dòng tiền cho Ngân hàng và Doanh nghiệp

Ngân hàng thì đang thừa thanh khoản, trong khi đó các doanh nghiệp lại “đói” vốn. Vấn đề cấp thiết lúc này là phải khơi thông dòng tiền cho ngân hàng và doanh nghiệp, từ đó, “cởi trói” cho nền kinh tế.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.
Tại Hội thảo “Ngân hàng và Doanh nghiệp - Giải pháp dòng tiền” diễn ra hôm nay, ngày 20/5, PGS. TS Trần ĐìnhThiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết: Tình hình quý I/2013 đã phản ánh chính xác sức khỏe thực tế không tốt của nền kinh tế. Nó cũng chỉ báo triển vọng khôi phục ổn định và phục hồi tăng trưởng không rõ ràng của nền kinh tế trong năm 2013.
 
“Những dự báo về khả năng đến đáy và thoát đáy của nền kinh tế bắt đầu từ giữa năm 2013 đang trở nên xa thực tế hơn”.Trong quý I năm 2013 - năm được xem là bản lề của nền kinh tế: Hai yếu tố quyết định khôi phục tăng trưởng và ổn định vĩ mô - tăng trưởng tín dụng (0,03%) và thu chi ngân sách (16,7% và 18,5% dự toán cả năm) của quý I đều yếu hơn các năm trước.
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa rơi xuống đáy, CPI tháng 3 bị âm 0,19%, sức cầu cực kỳ yếu. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm nay tăng 4,9%, thấp xa so với cùng kỳ năm 2012 (5,9%). Số lượng doanh nghiệp đóng cửa khoảng 15.300 doanh nghiệp lần đầu tiên “vươn lên” ngang với số doanh nghiệp đăng ký mới (15.700 doanh nghiệp).
 
Nhận thức được khó khăn của doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại cũng đưa ra một số giải pháp tài chính cung cấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Gói tài trợ vốn lưu động với lãi suất ưu đãi giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời khơi thông dòng tiền cho nền kinh tế. Điển hình, theo ông Đặng Bảo Khánh - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), hiện thanh khoản của SeABank khá dồi dào, ngân hàng sẵn sàng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp như gói tài trợ vốn lưu động ưu đãi trị giá 2 ngàn tỷ đồng kéo dài đến hết ngày 31/12/2013 với lãi suất ưu đãi từ 9,9%/năm… Còn hình thức vay tín chấp hay thế chấp còn tùy thuộc vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp mà NH sẽ quyết định.
 
Tuy nhiên, trên thực tế, dù lãi suất huy động được dự báo giảm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy vẫn còn dư địa để lãi suất tiếp tục giảm tạo điều kiện giảm lãi suất vay, nhưng số lượng doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay rẻ là rất ít.
 
Theo ông Thiên năm 2012 và đầu năm 2013 nền kinh tế vẫn trong tình trạng “bất thường”, thậm chí gay gắt hơn. Những vấn đề hiện tại không thể được giải quyết bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa mà phải có những giải pháp cụ thể.
 
“Nền kinh tế có “sức khỏe” không tốt, nên dù lãi suất huy động được dự báo giảm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy vẫn còn dư địa để lãi suất tiếp tục giảm tạo điều kiện giảm lãi suất vay, nhưng quan trọng là làm sao tăng số lượng doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay rẻ. Bên cạnh đó, ngoài việc ngân hàng sẵn sàng đẩy mạnh cho vay, chất lượng kinh doanh của các doanh nghiệp cũng cần phải nâng cao khả năng quản trị tài chính cũng như sản xuất kinh doanh hiệu quả để hạn chế rủi ro tín dụng. Nhiều chuyên gia đề xuất nên thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm để cứu các doanh nghiệp thay vì hoàn toàn trông chờ vào dòng tiền từ ngân hàng như hiện nay.” - PGS. TS Trần ĐìnhThiên nhấn mạnh.
 
Về vấn đề này, Vụ trưởng vụ tín dụng Ngân hàng nhà nước, ông Nguyễn Viết Mạnh thì: Đang tiến tới bỏ trần lãi suất. Theo đó, hàng loạt các ngân hàng giảm lãi suất xuống dưới mức trần 7,5% thay vì lách luật để cạnh tranh lãi suất. Ngoài ra, theo chỉ đạo của NHNN, trong thời gian tới tiếp tục thiết lập trần lãi suất cho vay với các lĩnh vực ưu tiên. Hiện nay mức trần lãi suất dành cho 5 lĩnh vực ưu tiên là 10%.

Mặc dù vậy, ông Mạnh cũng khuyến cáo các DN cũng cần phải đa dạng hóa nguồn vốn để đảm bảo dòng tiền của mình, không chỉ vốn ngân hàng mà cần huy động từ các nguồn khác. Vốn ngân hàng có tỷ lệ kỳ hạn ngắn khá cao không thể sử dụng quá tỷ lệ quy định cho vay trung và dài hạn. NHNN khẳng định vẫn đang tiếp tục đánh giá tác động của Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; gia hạn nợ và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
 
(T.Hương)