Nợ xấu có thể lên tới 9,8%

Mặc dù tổng số nợ xấu mà Công ty Quản lý tài sản VAMC đã xử lý và đưa ra theo dõi ngoại bảng năm 2012 và 10 tháng đầu năm 2013 là 105,9 tỷ đồng song nếu thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tăng gấp đôi con số 4,64% tổng dư nợ mà Ngân hàng Nhà nước đã công bố.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Thừa số lượng thiếu chất lượng

Các định chế tài chính ở Việt Nam gồm Ngân hàng Trung ương và các Tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, tính đến cuối năm 2012, có 48 ngân hàng thương mại với tổng tài sản có khoảng 5 triệu tỷ đồng chiếm 96% toàn hệ thống (5 NHTMNN, 34 NHTMCP, 4 NHLD, 5 NH 100% vốn nước ngoài); 18 công ty tài chính trực thuộc các Tổng công ty lớn với vốn điều lệ đạt hơn 18.000 tỷ đồng; 12 công ty cho thuê tài chính với tổng vốn điều lệ khoảng 2.600 tỷ đồng; 01 Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và hơn 1.000 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.

Tính đến cuối năm 2012 có 106 công ty chứng khoán hoạt động trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam với chức năng là các tổ chức môi giới trên thị trường chứng khoán như lập các thủ tục, phát hành, bảo lãnh phát hành chứng khoán... và trên thị trường có 1 ngân hàng chỉ định thoanh toán là BIDV; có 7 ngân hàng lưu ký chứng khoán, trong đó có 6 chi nhanh ngân hàng nước ngoài và 1 ngân hàng Việt Nam (NH TMCP Tiên Phong). Ngoài ra, còn có 24 Quỹ đầu tư, với quy mô vốn điều lệ khoảng gần 14,5 nghìn tỷ đồng, đóng vai trò đáng kể trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung là Vinacapital, Dragon Capital, Indochina Capital, Mekong Capital...

Thị trường tài chính Việt Nam còn có sự tham gia của 57 công ty bảo hiểm và môi giới bảo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam với tổng tài sản trên 107 nghìn tỷ đồng, trong đó gồm 26 công ty TNHH 1 thành viên, 8 công ty TNHH 2 thành viên trở lên và 23 công ty cổ phần. Ngoài ra còn có hơn 32 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.

Một số định chế tài chính khác gồm Tiết kiệm bưu điện, Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố.

Tại Hội thảo Kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong hệ thống tài chính của Trung Quốc và Bài học cho Việt Nam, TS. Phạm Mạnh Thường, Phó Tổng Giám đốc Công ty mua bán nợ và Tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) đánh giá, hiện hệ thống tài chính Việt Nam đang tồn tại khá nhiều yếu kém, trong đó, số lượng các định chế tài chính Việt Nam hiện nay là nhiều, phân bổ không đều, mạng lưới các định chế tài chính tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị, hạn chế khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực tài chính tới các vùng miền khác của cả nước, do đó, cơ cấu về quy mô của các định chế tài chính chưa thực sự hợp lý.

Bên cạnh đó, việc hình thành quá nhiều các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư so với quy mô của thị trường chứng khoán, hay các định chế tài chính là ngân hàng thiếu những định chế tài chính có quy mô lớn, hoạt động xuyên quốc gia... cũng là những hạn chế của hệ thống tài chính Việt Nam. Thừa về số lượng nhưng lại thiếu chất lượng như trình độ quản trị doanh nghiệp còn nhiều bất cập xuất phát từ vấn đề cơ cấu sở hữu, nhất là sở hữu chéo ngày càng phức tạp, chiến lược kinh doanh của không ít các định chế tài chính kém bền vững, chủ yếu tăng trưởng về quy mô và tập trung vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao để tạo lợi nhuận lớn hơn.

Năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh, cạnh tranh của các định chế tài chính còn thấp, tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng chưa cao. Sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính còn chưa lành mạnh, thiếu sự hợp tác dẫn đến việc tuân thủ kỷ cương, kỷ luật, chính sách, pháp luật trong hoạt động ngân hàng chưa được chặt chẽ. Do vậy, mức độ an toàn của hệ thống tài chính chưa cao, trong đó một bộ phận các định chế tài chính hoạt động kém hiệu quả, mức độ an toàn thấp. Cơ cấu nguồn vốn cũng không ổn định, mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn do lấy vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, đặc biệt một số TCTD đã đầu tư lớn vào bất động sản dẫn đến mất khả năng thanh toán, buộc phải tăng huy động vốn bằng mọi giá. Đây là nguyên nhân chính khiến nợ xấu tăng cao trong thời gian qua.

Nợ xấu thực cao hơn báo cáo

TS. Phạm Mạnh Thường cho biết: Kể từ cuối năm 2008, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do tác động của nền kinh tế Việt Nam và suy thoái kinh tế toàn cầu, dẫn đến làm ảnh hưởng đến hoạt đông ngân hàng, gia tăng nợ xấu của các TCTD. Đến ngày 30/6/2012, tổng nợ xấu (bao gồm nợ xấu cấp tín dụng và nợ xấu trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác cấp tín dụng, ủy thác mua trái phiếu) của toàn hệ thống các TCTD (trong nước và ngoài nước) là 188.961 tỷ đồng, chiếm 7,12% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Đến cuối tháng 8/2013, theo số liệu của NHNN thì tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống là 142,27 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,64% tổng dư nợ, chưa bao gồm số dư các khoản nợ được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm là 316,8 tỷ đồng (tính đến cuối tháng 10/2013).

“Nếu thực hiện đúng quy định, phần đông số nợ đã rơi vào nợ xấu và thậm chí sẽ tăng gấp đôi lên 9,8%. Nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu là khá cao. Trong các TCTD, trên 30 TCTD có dư nợ xấu trên 3% tổng dư nợ. Điển hình nhất là Agribank với số nợ xấu lên tới 7,56%, đấy là con số sau khi bán 2.534 tỷ nợ xấu cho Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC). Các Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội - SHB (trên 9%), Nam Việt - Navibank (6%), Kỹ Thương - Techcombank (5,2%) cũng chỉ "cõng" số nợ xấu bằng một phần mười của Agribank. Như vậy, ước tính, một mình ngân hàng này đang gánh hơn 33.500 tỷ nợ xấu, tương đương 24% nợ xấu của toàn ngành ngân hàng. Chưa kể đến việc tổng vốn điều lệ của Agribank chỉ khoảng 29.500 tỷ đồng, nghĩa là nợ xấu đã vượt quá cả vốn.” - Đại diện DATC khẳng định.

Có thể nói, nợ xấu của các TCTD tập trung cao ở nhóm NHTM Nhà nước chiếm tới chiếm 48,6% tổng nợ xấu của các TCTD Việt Nam và liên quan chủ yếu đến bất động sản, trong bối cảnh thị trường bất động sản suy giảm, đây là nguy cơ làm tăng khả năng mất vốn của các TCTD. Đi kèm với đầu tư lớn vào bất động sản, việc dự phòng rủi ro chưa được trích lập đầy đủ và tương xứng với mức độ rủi ro khiến nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu từ số nợ nhóm 2 đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ. Trong khi đó, mức độ tập trung tín dụng đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng liên quan rất lớn, khi những khách hàng này gặp khó khăn về tài chính cũng có nghĩa là rủi ro nợ xấu và tổn thất vốn đối với TCTD sẽ tăng cao. Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa các TCTD lớn làm cho tính lệ thuộc lẫn nhau giữa các TCTD và rủi ro hệ thống tăng cao.

Chứng khoán hóa khoản nợ: Tại sao không?

Theo đánh giá của GS. Hàn Hiểu Minh, Viện Nghiên cứu Khoa học Tài chính Trung Quốc, Bộ Tài chính Trung Quốc, cũng giống Trung Quốc, nợ xấu của Việt Nam cũng mang tính tích tụ và được giải quyết thông qua các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (của từng ngân hàng, tuy nhiên, biện pháp này cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn. Từ năm 2006 đến nay, các TCTD vẫn xử lý nợ xấu bằng các biện pháp như: Xử lý bằng các biện pháp như giãn nợ, cơ cấu lại nợ hoặc xoá nợ; Dùng dự phòng rủi ro để xử lý, đưa nợ xấu ra hạch toán ngoại bảng; Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ người bảo lãnh.

Hiện tại ngoài việc buộc các TCTD tự xử lý nợ xấu thông qua Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC), các TCTD có thể xử lý nợ theo hướng thị trường bằng cách bán nợ cho DATC và VAMC để xử lý các khoản nợ tồn đọng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa cách xử lý nợ xấu của DATC và VAMC. Cụ thể là, sau khi rà soát đánh giá lại tình trạng nợ của doanh nghiệp và xây dựng hướng xử lý nợ, DATC mới tiến hành đàm phán với ngân hàng chủ nợ của doanh nghiệp để mua nợ trực tiếp. Sau đó, DATC sẽ xử lý nợ gắn với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, đặc biệt là các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, ngoài ra còn thực hiện phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế để tái cấu trúc khoản nợ phải trả. Nguyên tắc mua bán nợ của DATC là phải dựa trên cơ sở kinh doanh có hiệu quả và đặc biệt là bảo toàn vốn nhà nước. Khác với DATC, mục tiêu của VAMC khi mua nợ xấu của các TCTD lại không phải vì lợi nhuận nên sẽ mua nợ theo giá trị sổ sách thông qua việc phát hành trái phiếu đặc biệt rồi để tồn kho, chờ thời gian xử lý nợ xấu. Vì thế, thông qua VAMC, mối liên hệ về nợ xấu giữa ngân hàng với khách hàng vẫn tồn tại và mới chỉ được đưa ra ngoại bảng. Có thể coi VAMC giống tổ chức xử lý nợ xấu quốc gia theo thông lệ quốc tế còn DATC xử lý nợ xấu giống tổ chức tái thiết doanh nghiệp giống Nhật Bản.

Theo đại diện DATC, hiện nay việc xử lý nợ xấu của Việt Nam mới chỉ đi theo mô hình mang tính truyền thống mà chưa thực hiện các biện pháp hiện đại như chứng khoán hóa khoản nợ - một nghiệp vụ vốn dĩ rất quen thuộc trên thế giới. Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp niêm yết đã tiến hành phát hành cổ phiếu (CP) để cấn trừ công nợ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong bối cảnh doanh nghiệp đang nợ đầm đìa, nếu để chứng khoán hóa khoản nợ để cấn trừ nợ thì biện pháp này sẽ thành vô ích bởi vô hình chung các ngân hàng sẽ phải “ôm” một đống giấy lộn. Thời gian tới, để có thể bổ sung thêm công cụ xử lý nợ cho thị trường tài chính Việt Nam càn phải có quy định cụ thể về việc định giá doanh nghiệp để ngân hàng thuận tiện hơn trong việc xử lý nợ.

Một xu hướng tương lai cho Việt Nam chính là bán nợ xấu cho các định chế tài chính nước ngoài. Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến các món nợ xấu của Việt Nam, tuy nhiên, nhiều nguyên nhân đến từ hành lang pháp lý đang cản trở các nhà đầu tư này tham gia vào thị trường mua bán nợ của Việt Nam. Nếu thời gian tới giải quyết được vấn đề này thì nợ xấu của hệ thống của Ngân hàng sẽ có tính thanh khoản cao.

(T.Hương)