Quản lý ngoại hối với việc cho vay ra nước ngoài

Tại Thông tư số 37/2013/TT-NHNN sẽ có hiệu lực từ ngày 14/02/2014, Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú.
Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Thông tư này quy định về việc mở và sử dụng tài khoản để thực hiện khoản cho vay ra nước ngoài, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và thu hồi nợ bảo lãnh của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh cho người không cư trú (Bên bảo lãnh); Tổ chức kinh tế được Thủ tướng Chính phủ cho phép cho vay đối với người không cư trú (Bên cho vay); Tổ chức kinh tế được Thủ tướng Chính phủ cho phép bảo lãnh cho người không cư trú (Bên bảo lãnh); Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động cho vay ra nước ngoài và bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức kinh tế, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài... cho người không cư trú của tổ chức kinh tế sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện việc cho vay, bảo lãnh cho người không cư trú; Mở và sử dụng tài khoản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thủ tục đăng ký, đăng ký thay đổi tài khoản cho vay ra nước ngoài; đăng ký, đăng ký thay đổi khoản thu hồi nợ bảo lãnh phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức kinh tế; Thủ tục đăng ký, đăng ký thay đổi khoản thu hồi nợ bảo lãnh phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho người không cư trú của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngoài các quy định tại Thông tư này, việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài, bảo lãnh cho người không cư trú của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo quy định hiện hành của NHNN về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của TCTD và quy định về bảo lãnh ngân hàng.

Theo đó, bên cho vay, bên bảo lãnh có trách nhiệm nghiên cứu về năng lực pháp lý, năng lực tài chính của bên vay, bên được bảo lãnh là người không cư trú nhằm đảm bảo thu hồi nợ gốc và lãi theo thỏa thuận cho vay, thỏa thuận cấp bảo lãnh; Tự chịu rủi ro về pháp lý và tài chính trong việc ký kết và thực hiện thỏa thuận cho vay, cam kết bảo lãnh, thỏa thuận cấp bảo lãnh và các thỏa thuận khác có liên quan; Tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan.

Trường hợp nợ phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được Bên được bảo lãnh thanh toán cho Bên bảo lãnh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Bên bảo lãnh không cần thực hiện đăng ký khoản thu hồi nợ bảo lãnh theo quy định tại Thông tư này.

(HTH)