TCTD phải trích lập riêng từng khoản tài sản có rủi ro ngoài dự phòng chung

Theo Thông tư 39/2013/TT-NHNN, bên cạnh dự phòng chung được tính bằng 0,75% tổng tài sản có của NHNN, NHNN phải trích lập dự phòng cụ thể đối với các khoản mục tài sản có rủi ro.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.
Cụ thể, theo Thông tư 39/2013/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ 1/6/2014 quy định về xác định, trích lập, quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro (DPRR) của NHNN Việt Nam, tài sản rủi ro gồm tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài, cho vay và thanh toán với ngân hàng nước ngoài; chứng khoán được đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế bị giảm giá so với giá trị ghi trên sổ kế toán; các khoản tái cấp vốn (Nhóm 1: Các khoản tái cấp vốn trong hạn; Nhóm 2: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn dưới 1 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần đầu; Nhóm 3: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần thứ hai; Nhóm 4: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần thứ ba; Nhóm 5: Các khoản tái cấp vốn hạn đã quá hạn từ 3 năm trở lên, những khoản tái cấp vốn không có thời hạn thanh toán, khoản nợ được khoanh và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ từ lần thứ tư trở lên); thanh toán với nhà nước và Ngân sách Nhà nước; và các khoản phải thu khác.

Cũng theo Thông tư 39, bên cạnh dự phòng chung được tính bằng 0,75% tổng tài sản có của NHNN, NHNN phải trích lập dự phòng cụ thể đối với các khoản mục tài sản có rủi ro.

Cụ thể, với tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài, cho vay và thanh toán với ngân hàng nước ngoài tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ là: Nhóm 1 - 0%; Nhóm 2 - 20% và Nhóm 3 - 100%.

Với hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị trường quốc tế, việc trích lập dự phòng sẽ căn cứ vào từng loại chứng khoán bị giảm giá tại thời điểm xác định dự phòng rủi ro, giá trị chứng khoán ghi trên sổ kế toán, giá thị trường của chứng khoán.

Trường hợp tài sản rủi ro là các khoản tái cấp vốn, nếu tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá thì giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo bằng mệnh giá giấy tờ có giá (đối với giấy tờ có giá chưa niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán) hoặc niêm yết (đối với giấy tờ có giá đã niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán) nhân 100%. Giá niêm yết được lấy theo giá tham chiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán tại thời điểm xác định dự phòng rủi ro.

Trường hợp tài sản đảm bảo là các hình thức khác có giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm bằng không, giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm lớn hơn dư nợ gốc thì số dự phòng rủi ro cần phải trích lập bằng không. Tỷ lệ trích lập tương ứng như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2; 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%.

Các khoản phải thanh toán với Nhà nước và Ngân sách Nhà nước sẽ có tỷ lệ trích lập với từng Nhóm 1, 2, 3 lần lượt là 0% - 10% - 100%. Còn với các khoản phải thu khác đã quá hạn thanh toán hoặc chưa đến hạn thanh toán nhưng đối tượng phải thu là tổ chức đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; đối tượng phải thu là cá nhân mất tích, bỏ trốn, đang bị cơ quan pháp luật truy tố...sẽ được áp dụng tỷ lệ trích lập tương ứng: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 30%; Nhóm 3: 50%; Nhóm 4: 70%; Nhóm 5: 100%.

(T.Hương)