Tín dụng Ngân hàng: Thay đổi "bộ mặt" nông nghiệp ĐBSCL

Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) luôn được xem là vùng xuất khẩu nông sản trọng điểm của nước ta, có được vị thế như vậy phần lớn nhờ vào sự đổi mới về mặt cơ chế, chính sách, trong đó, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Tại Hội thảo “Vai trò của tín dụng đối với nông sản xuất khẩu vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh cho rằng, nhận thức được vai trò quan trọng của các sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ lực, trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã tích cực triển khai đồng bộ nhiều chính sách nhằm phát huy và khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về sản xuất nông nghiệp của khu vực đặc biệt là các sản phẩm nông sản xuất khẩu. “Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của khu vực phát triển nhanh, bền vững, mang lại đời sống ấm no cho người dân trong khu vực. Ngành Ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục đồng hành với các doanh nghiệp và người dân trong khu vực để từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế đối với các sản phẩm nông sản xuất khẩu là thế mạnh của khu vực ĐBSCL.

NHNN đã phối hợp với một số bộ, ngành và chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiến hành khảo sát, lựa chọn một số mô hình liên kết có hiệu quả giữa doanh nghiệp với hộ nông dân để tổ chức thí điểm chương trình cho vay hỗ trợ đối với các mô hình liên kết. NHNN sớm có tổng kết của chương trình thí điểm này để đánh giá và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng mô hình.

Bên cạnh các chính sách chung, NHNN đã phối hợp với các Bộ, Ngành tham mưu cho Chính phủ ban hành nhiều chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ cho các sản phẩm chủ lực của khu vực ĐBSCL. Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) Võ Minh Tuấn dẫn chứng hàng loạt các chương trình như: “Chương trình cho vay thí điểm nhằm nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp theo các mô hình liên kết, mô hình áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, mô hình liên kết sản xuất các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu với lãi suất cho vay ưu đãi từ 7%-10,5%/năm và mức cho vay lên đến 90% giá trị của phương án, dự án vay vốn. Chương trình cho vay tạm trữ lúa gạo để ổn định giá lúa trong thời kỳ thu hoạch của nông dân; Chính sách tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực chăn nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm; Chính sách tín dụng hỗ trợ cho người nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh không trả được nợ ngân hàng, chính sách cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; Chính sách tín dụng phục vụ phát triển thủy sản, hỗ trợ khai thác hải sản xa bờ...”.

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND Tỉnh Bến Tre Võ Thành Hạo cho rằng, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách tín dụng mang tính đột phá đặc biệt với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển kinh tế các tỉnh vùng Tây Nam Bộ nói chung, tỉnh Bến Tre nói riêng. Thông qua nguồn vốn tín dụng Ngân hàng, nhiều doanh nghiệp, hộ nông dân, trang trại, gia trại đã có điều kiện mở rộng, phát triển sản xuất. Nhờ đó, đã thúc đẩy nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn, tăng năng suất, tạo thương hiệu sản phẩm tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. 

Theo số liệu giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, dư nợ tín dụng của vùng ĐBSCL không ngừng gia tăng qua các năm, cụ thể tăng từ 271.556 tỷ đồng năm 2012, 302.794 tỷ đồng năm 2013 lên 334.146 tỷ đồng năm 2014, chiếm khoảng hơn 9% so với tổng dư nợ tín dụng của cả nước.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng cũng tích cực triển khai nhiều chương trình cho vay các đối tượng chính sách, xóa đói giảm nghèo; tài trợ an sinh xã hội tại khu vực Tây Nam Bộ nói chung, tỉnh Bến Tre nói riêng, góp phần tích cực vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo.

Nông sản vẫn chỉ chiếm 10% giá trị xuất khẩu

Theo TS.Vũ Nhữ Thăng - Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách Tài chính (Bộ Tài chính), chính sách tín dụng xuất khẩu (TDXK) đã có sự điều chỉnh nhằm phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể, Nghị định 54/2013/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng cho vay TDXK (các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để mua thức ăn chăn nuôi thủy sản phục vụ xuất khẩu) và gia hạn thời gian tối đa cho vay từ 12 tháng lên 36 tháng đối với rau quả và thủy sản. Trong khi đó, Nghị định 133/2013/NĐ-CP tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay được gia hạn tối đa 36 tháng đối với mặt hàng hạt điều và cà phê. Thêm nữa, lãi suất TDXK cũng được điều chỉnh linh hoạt đảm bảo cho các đối tượng cho vay được hưởng mức lãi suất ưu đãi hơn so với mức lãi suất thị trường. Theo Thông tư số 189/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính, lãi suất TDXK của Nhà nước bằng đồng Việt Nam là 7,2%/năm (tối đa 36 tháng).

Về phía mình, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn để đầu tư cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng thời NHNN có chính sách hỗ trợ về nguồn vốn như ưu tiên trong tái cấp vốn và thực hiện giảm dự trữ bắt buộc đối với các TCTD có tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn từ 40% trở lên. Thực hiện miễn giảm lãi, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng cường cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, kéo dài thời hạn thực hiện quy định cho phép các TCTD được cho vay bằng ngoại tệ đối với một số nhu cầu vốn… Quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tối đa là 7%/năm.

Tuy nhiên, so với tiềm năng và thế mạnh của vùng thì những kết quả đạt được còn chưa tương xứng, giá trị xuất khẩu các sản phẩm này mới chỉ chiếm khoảng 10% so với tổng giá trị các mặt hàng xuất khẩu (12,3 tỷ đôla năm 2014). Do đó, cần phải ưu tiên đầu tư cho khu vực nông thôn và nông nghiệp, đặc biệt tập trung vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại, công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo máy móc nông nghiệp, sản xuất vật tư nông nghiệp, dịch vụ khoa học công nghệ. Bên cạnh đó là bảo lãnh và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, bảo lãnh và cho hợp tác xã vay phát triển sản xuất kinh doanh, cho nông dân vay mua thiết bị máy móc, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa đối tượng vay trong trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn và chế biến lâm sản.

“Sau 3 năm thực hiện (2011-2013) chương trình thí điểm BHTDXK chưa đạt được mục tiêu đặt ra theo Quyết định 2011/QĐ-TTg (3% kim ngạch xuất khẩu được bảo hiểm đến hết năm 2013). Thực tế, giá trị kim ngạch xuất khẩu tham gia BHTDXK năm 2011 mới đạt 0,12%, năm 2012 đạt 0,14%, năm 2013 là 0,26% kim ngạch xuất khẩu. Số doanh nghiệp tham gia BHTDXK cũng chưa khả quan, sau 3 năm thực hiện (2011-2013) các doanh nghiệp bảo hiểm mới cấp được 46 hợp đồng bảo hiểm, trong đó có 23 hợp đồng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và 23 hợp đồng bảo hiểm hỗ hợp bảo hiểm cho cả doanh thu xuất khẩu và doanh thu hàng nội địa" - TS. Vũ Nhữ Thăng dẫn chứng.

(HTH)