Tín dụng ưu đãi góp phần xóa đói giảm nghèo

Theo Vụ Tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến 31/12/2012, tổng dư nợ của chương trình tín dụng ưu đãi (dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác) đạt 113.921 tỷ đồng, gấp 6,2 lần so với dư nợ năm 2005, với hơn 8 triệu khách hàng đang có dư nợ. Tính đến hết năm 2012 đã có trên 21,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng ưu đãi.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.
Chính sách hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi
 
Ngày 4/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, tại Nghị định này Chính phủ giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH).
 
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản có liên quan tới hoạt động tín dụng cho các đối tượng chính sách tại NHCSXH. NHNN đã hướng dẫn các tổ chức tín dụng Nhà nước duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH bằng 2% số dư nguồn vốn huy động bằng đồng Việt Nam tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm trước theo đúng chỉ đạo. Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của NHCSXH, định kỳ hàng năm NHNN có văn bản thông báo mức lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân chung của các tổ chức tín dụng Nhà nước để làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng Nhà nước và NHCSXH xác định mức lãi suất tiền gửi tại NHCSXH.
 
Bên cạnh đó, NHNN yêu cầu NHCSXH chủ động xây dựng và thực hiện các giải pháp để tăng nguồn vốn phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2006 - 2010;  mở rộng cho vay đáp ứng các nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống của hộ nghèo và các đối tượng chính sách; rà soát, chỉnh sửa quy trình tín dụng hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế cho vay nhằm nâng cao chất lượng tín dụng; đơn giản hóa thủ tục cho vay để tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận và hưởng lợi từ chính sách, cơ chế tín dụng ưu đãi của Nhà nước; xác định thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh của cây trồng, vật nuôi và khả năng hoàn trả nợ của người vay phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối của Ngân sách Nhà nước.
 
Đồng thời, NHNN yêu cầu NHCSXH chủ động xây dựng phương án huy động vốn theo cơ chế hiện hành và trình cơ quan có thẩm quyền bổ sung các nguồn vốn khác để đảm bảo có thêm vốn cho vay hộ nghèo, học sinh, sinh viên và các đối tượng chính sách khác.
 
Ngoài ra, NHNN ban hành chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. Theo đó, các hộ nghèo, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tại 61 huyện nghèo trên cả nước sẽ được Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay (của các ngân hàng thương mại nhà nước) để trồng rừng sản xuất, phát triển sản xuất nông nghiệp, chế biến nông - lâm - thủy sản tại địa bàn;  cho vay ưu đãi một lần ở NHCSXH tối đa 5 triệu đồng/hộ, lãi suất 0%, trong thời gian 2 năm để mua giống gia súc, gia cầm chăn nuôi tập trung hoặc giống thủy sản; Các hộ nghèo không có điều kiện chăn nuôi mà có nhu cầu phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tạo thu nhập cũng được hỗ trợ tương tự.
 
NHNN cũng ban hành chính sách tín dụng đối với hộ cận nghèo, theo đó hộ cận nghèo được vay vốn tại NHCSXH với mức cho vay bằng mức cho vay hộ nghèo và lãi suất cho vay bằng 130%  (nay điều chỉnh giảm xuống còn 120%) lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định trong từng thời kỳ.
 
21,4 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn ưu đãi
 
Theo Vụ Tín dụng, tính đến 31/12/2012, tổng dư nợ đạt 113.921 tỷ đồng, gấp 6,2 lần so với dư nợ năm 2005, với hơn 8 triệu khách hàng đang có dư nợ. Dư nợ của NHCSXH tập trung vào một số chương trình tín dụng chính sách lớn như: Cho vay hộ nghèo, cho vay học sinh, sinh viên, cho vay nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, cho vay giải quyết việc làm, cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở. Riêng chương trình cho vay hộ cận nghèo mới được thực hiện từ 16/4/2013, đến 31/7/2013 dư nợ đã đạt 3.924 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ của NHCSXH.
 
Qua 5 năm triển khai, Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam và NHCSXH đã thực hiện cho vay 62 huyện nghèo thuộc 21 tỉnh với doanh số lũy kế lên tới 4.640,9 tỷ đồng cho hơn 316 nghìn lượt khách hàng được vay vốn, dư nợ  tại thời điểm 31/12/2012 đạt 1.851,9 tỷ đồng, với hơn 84,8 nghìn khách hàng còn dư  nợ.
 
Ngoài ra, trong giai đoạn 2008-2012, ngành Ngân hàng đã thực hiện tài trợ hơn 4.800 tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội trên cả nước, chủ yếu tập trung vào mục đích hỗ trợ hộ nghèo và các gia đình chính sách, về nhà ở (xóa hàng chục nghìn căn nhà tạm, dột nát), về giáo dục (xây dựng trường học tại các xã vùng cao), về y tế (tài trợ hàng chục xe cứu thương và xây dựng, sửa chữa, nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện và các trạm y tế xã) và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng… Qua đó đã góp phần đáng kể, thiết thực  giúp một bộ phận dân cư, cộng đồng trên toàn quốc, đặc biệt là huyện nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, cải thiện được điều kiện sống, tăng thêm cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế.
 
Tính đến hết năm 2012 đã có trên 21,4 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng ưu đãi, góp phần giúp trên 2,9 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; 2,6 triệu hộ nghèo đã cải thiện được đời sống nhưng chưa thoát nghèo; thu hút tạo việc làm cho gần 2,6 triệu lao động; hơn 3 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 4,2 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; trên 88 nghìn ngôi nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng ĐBSCL; gần 484 nghìn căn nhà cho hộ nghèo và các hộ gia đình chính sách; hơn 98 nghìn lao động thuộc gia đình chính sách được vay vốn đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài.
 
Để người nghèo tiếp cận vốn dễ hơn
 
Theo Vụ Tín dụng, qua quá trình thực hiện thời gian qua cho thấy mặc dù tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh, đặc biệt là tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn cao, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo của cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước. Hiện vẫn có nơi chưa rà soát, bổ sung kịp thời những hộ mới phát sinh nghèo, cận nghèo vào danh sách, làm ảnh hưởng tới việc hỗ trợ vốn kịp thời cho các đối tượng này. Nhu cầu vốn tín dụng ưu đãi ngày càng lớn trong khi nguồn vốn ưu đãi có hạn, vốn tín dụng ngân hàng vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các khu vực kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nhiều địa phương, nhiều hộ nghèo còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước mà chưa tự lực vươn lên thoát nghèo…
 
Công cuộc xóa đói giảm nghèo cần có sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, trước hết là những cơ quan tổ chức, quản lý chịu trách nhiệm trong các chủ trương, chính sách đó. Do đó cần thiết phải nâng cao về nhận thức trách nhiệm của các cấp ủy Đảng chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, từ các cấp lãnh đạo đến quần chúng nhân dân.
 
Các chính sách giảm nghèo phải thường xuyên được tổ chức rà soát, đánh giá, mang tính hệ thống để người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận hiệu quả hơn. Chính sách giảm nghèo cần phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên vốn cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
 
Cần thiết có cơ chế huy động nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và chính bản thân hộ nghèo trong quá trình thực hiện mục tiêu giảm nghèo, các chính sách và nguồn lực phải được công khai, minh bạch, hỗ trợ đúng đối tượng, hiệu quả.
 
Ngoài ra cần phát huy dân chủ, tạo cơ hội cho người nghèo tham gia đóng góp ý kiến cho quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xóa đói giảm nghèo. Có các giải pháp về đầu ra sản phẩm trong sản xuất mà người nghèo làm ra. Chương trình xóa đói giảm nghèo phải sát thực với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, không nên áp một cách dàn trải, đồng nhất một cách cứng nhắc.
 
(T.Hương)