Xác minh tài sản của khách hàng tại các TCTD trong thi hành án Thừa phát lại

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN, hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng (TCTD). Thông tư này có hiệu lực từ ngày 05/3/2014.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Theo đó, Văn phòng Thừa phát lại; TCTD; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại sẽ là đối tượng áp dụng của Thông tư này. Cụ thể, Thông tư hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại liên quan đến việc yêu cầu cung cấp thông tin về số dư tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi của người có nghĩa vụ thi hành án là khách hàng (gọi chung là thông tin của khách hàng) tại các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là TCTD) ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm.

Thông tư này được áp dụng trong trường hợp xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các Cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại; hoặc xác minh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn trong trường hợp người có nghĩa vụ thi hành án có tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi tại các TCTD ở địa phương đó.

TCTD có quyền từ chối cung cấp thông tin trong các trường hợp: Vụ việc không thuộc thẩm quyền xác minh của Thừa phát lại; Trong cùng một vụ việc có cùng một nội dung yêu cầu tại cùng một thời điểm đã được Chấp hành viên hoặc Thừa phát lại khác thực hiện việc xác minh; Khách hàng yêu cầu cung cấp thông tin không phải là người có nghĩa vụ thi hành án thuộc thẩm quyền xác minh của Thừa phát lại; Thông tin yêu cầu cung cấp ngoài phạm vi các thông tin quy định tại Thông tư này; Hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin không đủ các tài liệu quy định tại Thông tư này. Trường hợp từ chối thì TCTD phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Thông tin cung cấp chỉ được sử dụng cho mục đích thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được bảo quản theo chế độ mật. Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại, người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án và các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm bảo mật thông tin được cung cấp và sử dụng đúng mục đích kết quả xác minh theo quy định của pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về sử dụng và bảo mật thông tin như trên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Định kỳ 06 tháng hoặc đột xuất, Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm trao đổi với Giám đốc Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện thí điểm về tình hình hoạt động có liên quan của các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn.

Đối với các vụ việc các Văn phòng Thừa phát lại đã tổ chức xác minh nhưng đến thời điểm Thông tư này có hiệu lực mà chưa thực hiện xong thì thực hiện theo quy định của Thông tư này.

(HTH)