Kim ngạch xuất khẩu tháng 5 ước đạt 14,6 tỷ USD

(eFinance Online) - Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) ước đạt 14,6 tỷ USD, tăng 1,7% so với tháng 4 và tăng 7% so với tháng 5/2015. Trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10,14 tỷ USD, tăng 1,7% so với tháng 4 và tăng 9% so với tháng 5 năm 2015. 
Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2016 KNXK ước đạt 67,7 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2015 (tương đương với tăng 4,187 tỷ USD). Trong đó KNXK của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 19,4 tỷ USD, chiếm 28,7% tổng KNXK của cả nước, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) ước đạt 48,3 tỷ USD, chiếm 71,3% tổng KNXK của cả nước, tăng 7,7%. Nếu không kể dầu thô, KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 47,38 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2015.

Nhóm hàng nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm 2016 xuất khẩu ước đạt 8,9 tỷ USD, chiếm 13,1% trong tổng KNXK, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2015 (tương đương với tăng 818 triệu USD), tháng 5 bắt đầu vào thời gian chính vụ của một số mặt hàng trong nhóm, do vậy đa số mặt hàng có kim ngạch tăng, rau quả có kim ngạch tăng cao (53,7%), còn các mặt hàng như nhân điều, hạt tiêu, gạo có mức tăng xấp xỉ 9%. Hai mặt hàng có kim ngạch giảm là chè (giảm 2,3%) và sắn (22,7%).

Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản 5 tháng đầu năm 2016 ước đạt 1,28 tỷ USD, chiếm 1,9% trong tổng KNXK, giảm 42,4% so với cùng kỳ năm 2015, tương đương với giảm 942 triệu USD, trong đó: than đá giảm 79,1%; dầu thô giảm 49,2%; quặng và khoáng sản khác giảm 32,9%; chỉ có mặt hàng xăng dầu tăng nhẹ (tăng 6,8%).

Nhóm hàng công nghiệp chế biến 5 tháng đầu năm 2016 ước đạt 53,9 tỷ USD, chiếm 79,6% trong tổng KNXK, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2015, tương đương với tăng gần 4,3 tỷ USD, đa số các mặt hàng có mức tăng trung bình khoảng 5%, nhiều mặt hàng có mức tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung như: bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc (tăng 15,2%); thức ăn gia súc và nguyên liệu (tăng 15,3%); túi sách, vali, mũ, ô dù (tăng 12,1%), kim loại thường và sản phẩm (tăng 21,3%), sản phẩm nội thất từ chất liệu khác (tăng 19,1%), điện thoại các loại và kinh kiện (tăng 20,6%), máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (tăng 16,2%), đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận (tăng 19,7%), đá quý và kim loại quý (25,8%).

Trong nhóm có tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, giảm mạnh nhất là phân bón (giảm 47,2%), tiếp đến là chất dẻo nguyên liệu (giảm 33,1%), các mặt hàng còn lại giảm nhẹ so với cùng kỳ (giảm xấp xỉ 2%). Nhóm hàng hóa khác ước đạt 3,6 tỷ USD, tăng 0,6% và chiếm tỷ trọng 5,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trong 5 tháng năm 2016, trừ mặt hàng nhân điều tăng 7,7% thì giá bình quân xuất khẩu của tất cả các mặt hàng đều giảm, do ảnh hưởng của mức giá giảm chung của thế giới. Giảm mạnh nhất là mặt hàng quặng và khoáng sản khác (64,2%), tiếp đến là phân bón và sắt thép giảm xấp xỉ 26%, còn lại mức giảm trung bình là 10%. Do ảnh hưởng của giá xuất khẩu đã làm kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông sản giảm khoảng 476 triệu USD; nhóm nhiên liệu, khoáng sản giảm khoảng 806 triệu USD. 

Trong 5 tháng đầu năm 2016, nhìn chung, lượng hàng xuất khẩu tăng trưởng khá, chỉ có 5 mặt hàng có lượng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ, giảm mạnh nhất là mặt hàng than đá (79,1%), tiếp đến là phân bón và chất dẻo nguyên liệu (xấp xỉ 30%), các mặt hàng dầu thô và sắn giảm từ 10-15%... Như vậy, 5 tháng đầu năm 2016, tính chung do tăng, giảm về giá và lượng của nhóm mặt hàng nông sản và khoáng sản là những mặt hàng tính được về giá và lượng làm KNXK giảm khoảng 615 triệu USD so với cùng kỳ. 

Về thị trường xuất khẩu, 5 tháng đầu năm 2016, ước xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng 14,9% và chiếm tỷ trọng 21,5%; xuất khẩu vào Châu Âu tăng 12,8%, chiếm tỉ trọng 21,1%, trong đó xuất khẩu vào EU 27 tăng 11% và chiếm tỷ trọng 19,6%; xuất khẩu vào Châu Á tăng 3,5%, chiếm tỉ trọng 47,8%, trong đó xuất khẩu vào ASEAN giảm 13,4% và chiếm tỷ trọng 10%; xuất khẩu vào Nhật Bản giảm 2,2% và chiếm tỷ trọng 7,9%; xuất khẩu vào Trung Quốc tăng 18,9% và chiếm tỷ trọng 11,2%.

Mức tăng kim ngạch xuất khẩu tập trung vào các thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ, đây là tín hiệu khả quan của việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do với các thị trường này. Do vậy, cần tích cực phổ biến, triển khai các cam kết, các Hiệp định đã ký kết để đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm các cơ hội mới cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

(NQ)