Xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng trưởng thấp

(eFinance Online) - Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm n ước đạt 82,24 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015 (6 tháng năm 2015 tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước). Đây là mức tăng thấp, kể cả xem xét trong tương quan với mức tăng GDP của năm nay. 
Hội nghị giao ban trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 ngành Công Thương diễn ra chiều ngày 12/7.Hội nghị giao ban trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 ngành Công Thương diễn ra chiều ngày 12/7.

Chiều ngày 12/7, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016 ngành Công Thương. Theo báo cáo tại hội nghị, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng thấp chủ yếu do giá xuất khẩu giảm 6,3%, bao gồm cả giảm giá dầu thô và giá xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến. Nếu loại trừ yếu tố giá giảm, thì tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 10,1% (mặc dù vẫn thấp hơn mức tăng 13,4% của cùng kỳ năm trước 13,4%) nhưng là mức cao hơn so với mục tiêu kế hoạch đề ra của năm 2016).

Tuy nhiên, trong bối cảnh cả cung trong nước và cầu nước ngoài cùng giảm sút, giá xuất khẩu lại duy trì ở mức thấp thì tốc độ này là khá tích cực, đặc biệt là nếu so sánh với các nước trong khu vực (đều có xuất khẩu, nhập khẩu tăng trưởng âm hoặc chỉ đạt mức tương đương năm trước. Ví dụ, 4 tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc giảm 7,6%; Ấn Độ xuất giảm 8%; Braxin giảm 3,4%; Indonesia giảm 13,6%). Điều này đã thể hiện nỗ lực lớn của các ngành, địa phương và doanh nghiệp. 

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất và vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tốc độ tăng KNXK 6 tháng đầu năm vào thị trường này đạt 12,8% (cùng kỳ năm trước đạt 18,6%), chiếm tỷ trọng 21,5% tổng KNXK cả nước (cùng kỳ năm trước chiếm 20,2%); Tiếp đến là thị trường EU tăng 9,8% (cùng kỳ năm trước tăng 11,6%) và chiếm tỷ trọng 19,8% tổng KNXK (cùng kỳ năm trước chiếm 19%); Thị trường Trung Quốc tăng 14,3% (cùng kỳ năm trước tăng 13,6%), chiếm tỷ trọng 11,1% (cùng kỳ năm trước chiếm 9,9%). Điều này cho thấy nỗ lực trong các biện pháp giữ vững trọng tâm khai thác các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đang tiếp tục phát huy hiệu quả tốt.

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2015. Xuất siêu 6 tháng đầu năm ước khoảng 1,54 tỷ USD, bằng khoảng 1,9% kim ngạch xuất khẩu. Giá nhập khẩu của các mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu giảm mạnh so với cùng kỳ khiến tổng kim ngạch nhập khẩu giảm mặc dù lượng nhập khẩu các mặt hàng hầu hết đều tăng, như sắt thép, xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, chất dẻo nguyên liệu, cao su, giấy, xơ sợi dệt, kim loại... Trong 22 mặt hàng tính được về giá và lượng thì tác động do giá nhập khẩu giảm đã làm giảm kim ngạch nhập khẩu 4,95 tỷ USD, do lượng nhập khẩu tăng góp phần tăng kim ngạch nhập khẩu 4,46 tỷ USD. Tính chung bù trừ giữa tăng/giảm giá và lượng đã khiến cho KNNK cả nước tăng 490 triệu USD.

Đáng chú ý, lượng nhập khẩu của một số hàng hóa là đầu vào quan trọng cho sản xuất như sắt thép, xăng dầu, khí hóa lỏng, chất dẻo nguyên liệu, cao su, giấy, xơ sợi dệt, kim loại... vẫn tăng, phù hợp với mức tăng của công nghiệp chế biến chế tạo. Vì vậy, nhập khẩu giảm 6 tháng đầu năm chưa hẳn thể hiện dấu hiệu tiêu cực. Kim ngạch nhập khẩu giảm cũng cho thấy tác dụng của các biện pháp quản lý, kiểm soát nhập khẩu đối với những nhóm hàng cần kiểm soát hoặc hạn chế nhập khẩu cũng như việc tăng cường sử dụng nguyên liệu, hàng hóa trong nước trong sản xuất có tác dụng tốt. Bên cạnh đó, cán cân thương mại thặng dư cũng góp phần đóng góp vào tăng trưởng GDP chung của cả nước.

Về thị trường, nhập khẩu từ châu Á chiếm 81% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước (cùng kỳ năm trước là 82%). Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm 28,8% và giảm 2,9% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm trước chiếm 30% và tăng 23,9%). Thị trường Hàn Quốc chiếm 18,4% và tăng 7,9% (cùng kỳ năm trước chiếm 17% và tăng 31,2%). Thị trường ASEAN chiếm 14,3% và giảm 3,4% (cùng kỳ năm trước chiếm 14,7% và tăng 6%). Thị trường châu Âu và châu Mỹ chiếm 14 - 16%, tốc độ tăng trưởng cơ bản duy trì tương đương mức cùng kỳ năm trước.

(NQ)