Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn trước Quốc hội

Chiều 10/6, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã đăng đàn trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội. Trước câu hỏi rằng nợ công có an toàn không, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định, nợ công của  VN vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, thấp hơn chỉ tiêu mà Quốc hội và Chính phủ phê chuẩn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn trước Quốc hội

Bộ trưởng cho biết, theo số liệu tuyệt đối, nợ công trong những năm gần đây có xu hướng tăng. Tuy nhiên, nếu so với GDP thì tỷ lệ thay đổi không nhiều (tỷ lệ nợ công trên GDP qua các năm là 51,7% (2010), 50,1% (2011), 50,8% (2012) và 54,1% (ước tính năm 2013) hiện ở dưới mức theo quy định của Nghị quyết của Quốc hội là 65%.

Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn vốn của Nhà nước tích lũy từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển còn chưa lớn, để có nguồn đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nước, cần phải huy động nguồn tài chính bổ sung cho đầu tư phát triển, đặc biệt là cơ sở hạ tầng. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nợ công tăng trong thời gian qua.

Về cơ cấu nợ công, khoảng 50% là nợ nước ngoài với điều kiện vay cơ bản là ưu đãi, với thời gian đáo hạn còn lại khoảng 15 năm; 50% còn lại là khoản vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn phần lớn nằm trong khoảng từ 2-5 năm.

Do vậy, áp lực về vay mới để trả các khoản vay cũ trong nước là tương đối lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường vốn trong nước còn chưa phát triển, đối tượng mua trái phiếu Chính phủ phần lớn là các ngân hàng thương mại (NHTM) trong khi cơ cấu nguồn vốn của các NHTM chủ yếu là không kỳ hạn hoặc có thời hạn ngắn.

Trên thế giới hiện chưa có tiêu chí về phạm vi nợ công áp dụng chung cho các quốc gia. Phạm vi nợ công của phần lớn các nước bao gồm nợ Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh.

Đối với Việt Nam, theo quy định của Luật Quản lý nợ công hiện hành, nợ công đã bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.

Đối với nợ đọng XDCB, đây là khoản nợ phát sinh do cần thiết đẩy nhanh tiến độ một số dự án trọng điểm, do chấp hành kỷ luật tài chính ở một số nơi chưa nghiêm.

Do vậy, cần thực hiện đúng Nghị quyết Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện cân đối vốn dự toán để thanh toán các khoản nợ đọng của các công trình trong danh mục đã được phê duyệt, phấn đấu tăng thu để có nguồn xử lý nợ đọng XDCB.

Hiện nay các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Chính phủ bảo lãnh, nợ vay về cho vay lại của Chính phủ đã được tính trong phạm vi nợ công.

Các khoản vay nợ của DN không được tính trong nợ công bởi DN là người trực tiếp đi vay nợ để đầu tư và có nghĩa vụ trả nợ. DN phải tự chịu trách nhiệm trả nợ.

Về chỉ tiêu nợ công trên GDP thì tỉ lệ này thay đổi không nhiều qua các năm. Năm 2010 là 51,7%, 2011 là 50,1%, 2012 là 50.8% và 2013 là 53,4% là kể cả số mà Quốc hội biểu quyết chuyển số của thuế VAT năm 2013 vào. Việc đưa số thuế VAT này vào là minh bạch (trước để ngòai). Tỉ lệ này nằm trong ngưỡng cho phép là 65%.

Riêng nợ Chính phủ hiện nay là 44%, thấp hơn chỉ tiêu 55% mà Quốc hội cho phép. Cùng với tăng trưởng GDP thì khả năng trả nợ tiếp tục được duy trì.

Thời hạn trả nợ là rất quan trọng. Do kinh tế khó khăn nên vừa qua thời hạn vay ngắn, đặc biệt là huy động trong nước (có khi từ 1-3 năm). Việc này đã báo cáo Chính phủ, cần có giải pháp để cơ cấu nợ công.

Cuối năm 2013, tỉ lệ trả nợ tổng số thì vượt 25% nhưng phân tích sâu thì trong này có 10% vay đảo nợ (không làm phát sinh thêm nghĩa vụ trả nợ), nên nếu trừ nghĩa vụ vay đảo nợ thì chúng ta vẫn nằm mức 20-21%, dưới mức 25%.

Đây là vấn đề hệ trọng, đặt ra vấn đề bố trí ngân sách trả nợ. Kinh tế chúng ta tuy có khởi sắc nhưng còn khó khăn. Quy mô còn rất nhỏ.

"Chúng tôi đánh giá nếu loại trừ nghĩa vụ vay đảo nợ, thì nghĩa vụ trả nợ đều nằm dưới mức 25% như tỉ lệ của Quốc hội. Vấn đề đặt ra là phải huy động được vốn. Đại biểu QH sốt ruột là đúng nhưng nếu loại trừ vay đáo nợ thì chúng ta vẫn nằm trong ngưỡng 20-21%, vẫn dưới ngưỡng cho phép 25%. " - Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định.

Nợ công tăng nhanh trong thời gian vừa qua, ngoài huy động cho đầu tư phát triển, tăng bội chi, có tăng về số tuyệt đối nhưng số tương đối thì như thế. Quán triệt tinh thần điều hành thận trọng thì Bộ Tài chính thường xuyên đánh giá danh mục nợ công, trên các chỉ tiêu đánh giá an toàn khác, đúng tinh thần luật quản lý nợ công.

Để quản lý hiệu quả nợ công hiệu quả, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đưa ra một số giải pháp. Đó là: Thực hiện cân đối ngân sách tích cực, từng bước giảm bội chi NSNN so với GDP, bố trí nguồn để trả nợ trong nước, ngoài nước đến hạn hàng năm theo đúng cam kết; Trong quá trình điều hành NSNN phấn đấu tăng thu để sử dụng một phần hợp lý để tăng chi trả nợ; thực hiện cơ cấu lại nợ;  kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với các khoản vay về cho vay lại, các khoản bảo lãnh cho doanh nghiệp; định kỳ kiểm tra, xử lý kịp thời những vướng mắc, những vi phạm… 

Công khai, minh bạch điều hành giá xăng dầu

Một số đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính về quản lý, điều hành giá xăng dầu. Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, Nghị định 84/2009/NĐ-CP của Chính phủ cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu. Giá xăng dầu được điều hành linh hoạt theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Giá xăng dầu lên xuống, tránh điều hành giật cục, tránh các cú sốc về giá cả đã có tác động tích cực đến chỉ số lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Bộ trưởng cũng cho biết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, Bộ Tài chính tham gia phối hợp sửa Nghị định 84. Ngày 3- 6, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì nghe lại Nghị định 84 sửa đổi và đã có kết luận, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục cùng với Bộ Công Thương tiến hành chỉnh sửa lần cuối lấy lại ý kiến thành viên Chính phủ, để sớm ban hành Nghị định sửa đổi.

Thứ hai chúng tôi đã tham mưu Chính phủ ra Nghị quyết 15 về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa thoái vốn của doanh nghiệp nhà nước đồng thời tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 06 về đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Vừa qua chúng tôi cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể hóa Nghị quyết 15. Như vậy về cơ bản văn bản pháp lý để tiến hành cổ phần hóa và các giải pháp đẩy mạnh cơ bản đã đầy đủ. Nhưng ở đây có vấn đề theo phân công của Chính phủ thì các bộ ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh phải chỉ đạo thực hiện việc này cùng với các Chủ tịch các công ty, hội đồng thành viên. Trong quá trình thực hiện tùy thuộc rất nhiều vào người đứng đầu các bộ, ngành và địa phương.

Được biết, tại kỳ họp này, Bộ Tài chính đã có báo cáo gửi các vị đại biểu Quốc hội về tình hình trích lập, sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Tính đến hết ngày 30/4/2014, số dư Quỹ này còn 1.180.063 triệu đồng. 

Điều hành giá xăng dầu theo thị trường có sự quản lý của nhà nước

Trả lời chất vấn liên quan đến công tác trong chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã tập trung tăng cường chống buôn lậu và gian lận thương mại, chỉ đạo cơ quan Hải quan, cơ quan Thuế phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng và đã có kết quả cụ thể.

“Ngành Hải quan đã lập 3 chuyên án, bắt khởi tố và chuyển cơ quan chức năng điều tra tiếp tục 3 chuyên án về xăng dầu, trong đó có 2 vụ án trên vùng biển Nam Định và Thanh Hóa, một vụ trên tuyến đường bộ của Cao Bằng. Kết quả đấu tranh phát hiện đã bắt giữ được 3.500 tấn xăng dầu, giá trị vi phạm khoảng 70 tỷ đồng. Cơ quan Hải quan đã khởi tố chuyển cơ quan Công an cả 3 vụ và riêng cơ quan Công an cũng đã khởi tố 18 bị can”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nói.

Cho biết thêm về nỗ lực của cơ quan Hải quan, Bộ trưởng cho biết: Trong vụ án ở vùng biển Nam Định, Thanh Hóa, lực lượng chống buôn lậu của Hải quan đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an. “Anh em làm rất nghiệp vụ thì mới bắt được và đã khởi tố vụ án”, Bộ trưởng nhấn mạnh thêm.

Ngày mai, 11/6, Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục trả lời chất vấn của các ĐBQH.

Tăng cường tái cơ cấu DNNN

Trong báo cáo gửi đến Quốc hội, Bộ Tài chính cho biết, tính đến hết tháng 03/2014 đã có 81/108 doanh nghiệp đã được phê duyệt Đề án tái cơ cấu, trong đó: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án của 19 doanh nghiệp, Bộ chủ quản phê duyệt đề án của 40 doanh nghiệp, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố phê duyệt Đề án của 22 doanh nghiệp); 6/108 doanh nghiệp đã xây dựng đề  án tái cơ cấu nhưng chưa được phê duyệt; 20/108 doanh nghiệp chưa báo cáo việc xây dựng đề án tái cơ cấu; 01 doanh nghiệp hiện đang thực hiện cổ phần hoá.

Về kết quả sắp xếp, cổ phần hóa DNNN, theo số liệu báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước gửi về Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 05/2014 cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.971 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 4.066 doanh nghiệp.

Năm 2013, cả nước sắp xếp, chuyển đổi: 101 doanh nghiệp, trong đó: cổ phần hóa: 74 doanh nghiệp, chuyển thành Công ty TNHH MTV 12 doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất 12 doanh nghiệp, bán 3 doanh nghiệp. Riêng 5 tháng đầu năm 2014 đã cổ phần hóa được 17 doanh nghiệp, trong đó có 13 Tổng công ty nhà nước. Theo kế hoạch, trong hai năm 2014 – 2015, cả nước sẽ thực hiện cổ phần hóa 432 doanh nghiệp (trong đó năm 2014 dự kiến cổ phần hóa 163 doanh nghiệp). 

"Vừa qua trong hội nghị đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN và cổ phần hóa DNNN, có những bộ, ngành rất tiêu biểu, đã phối hợp với Bộ Tài chính chặt chẽ như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn." - Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhận xét.

Bộ Tài chính với Bộ Giao thông vận tải, hai Bộ trưởng giao kèo với nhau là 6 tháng gặp nhau một lần, có lần gặp nhau Bộ Giao thông vận tải đưa ra mấy chục kiến nghị, cơ bản những kiến nghị đó trong phạm vi thẩm quyền đều được giải quyết ngay lập tức. Cùng với sự quyết liệt của người đứng đầu ngành như thế, tiến trình cổ phần hóa như Bộ Giao thông vận tải thời gian qua rất nhanh. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng tương tự như thế.

Nguyên nhân được Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng phân tích là do trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Đến nay về phía trách nhiệm của Bộ Tài chính đã xây dựng các cơ chế chính sách liên quan đầy đủ. Về chế tài, trong Nghị quyết của Chính phủ, trong Chỉ thị của Thủ tướng cũng nêu rất rõ chế tài, trách nhiệm đối với người đứng đầu không thực hiện đúng lộ trình, đúng kế hoạch cổ phần hóa, kế hoạch thoái vốn, phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước Chính phủ. Về phía Bộ Tài chính, Bộ sẽ đồng hành với các ngành, các địa phương để tiếp tục thực hiện theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

(T.H - tổng hợp)