Cấp mã số thuế cho toàn dân - gánh nặng đè vai cho CNTT

Dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang được Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân, dự kiến sẽ được xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII vào cuối năm nay.

Cấp mã số thuế cho toàn dân - gánh nặng đè vai cho CNTT

Khi dự thảo Luật này được thông qua thì số lượng người nộp thuế sẽ tăng lên rất nhiều. Cùng với đó là số lượng người phụ thuộc cho từng người nộp thuế cũng cần phải được xác định một cách cụ thể và chính xác.

Chính vì vậy một yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công Luật thuế TNCN, đó là ngành thuế sẽ phải thực hiện cấp mã số thuế cho toàn dân, bởi vì không chỉ cấp mã số thuế cho người nộp thuế mà còn phải cấp mã số thuế cho người phụ thuộc, tránh việc kê khai trùng người phụ thuộc, làm giảm đi số thuế phải nộp. Như vậy số lượng mã số thuế phải cấp sẽ tăng lên hàng chục triệu, trong đó bao gồm hàng tỷ thông tin phải sử dụng và cập nhật vào cơ sở dữ liệu (hiện nay form nhập dữ liệu cấp mã số thuế cho 1 hộ cá thể có 47 chỉ tiêu thông tin).

Hệ thống CNTT đáp ứng đến đâu?

Câu hỏi đặt ra hiện nay là: Ngành thuế, mà cụ thể là hệ thống CNTT của ngành có đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu này?

Hiện nay, ngành thuế đang quản lý thu thuế và đã cấp mã số thuế cho hơn 2 triệu hộ kinh doanh cá thể, 298.000 cá nhân nộp thuế thu nhập cao và hơn 315.000 doanh nghiệp, để thực hiện việc cấp mã số thuế ngành thuế đã trang bị đầy đủ cơ sở vật chất bao gồm hạ tầng truyền thông (sử dụng hạ tầng truyền thông chung của ngành Tài Chính), hệ thống máy chủ chuyên dụng có cấu hình cao tại Tổng cục và 64 Cục thuế, xây dựng 4 ứng dụng phần mềm cho từng cấp quản lý.

Tại Tổng cục thuế: Ứng dụng có chức năng chính là nhận dữ liệu từ các Cục thuế, kiểm tra, xác nhận các thông tin về mã số thuế, đảm bảo là duy nhất trong toàn quốc.

Tại cấp Cục thuế: Ứng dụng cho phép cập nhật thông tin đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho tất cả người nộp thuế do Cục thuế và Chi cục thuế quản lý, truyền/nhận thông tin mã số thuế từ các ứng dụng cấp Chi cục và Tổng cục thuế, ngoài ra ứng dụng còn có chức năng cung cấp cơ sở dữ liệu mã số thuế cho các ứng dụng cấp Cục khác.

Tại cấp Chi cục thuế (TINC): Có chức năng cập nhật thông tin và cấp mã số thuế cho hộ cá thể kinh doanh và cá nhân nộp thuế thu nhập cao. Có 2 mô hình ứng dụng là:

+ Mô hình phân tán, chỉ có chức năng cập nhật thông tin và truyền/ nhận dữ liệu với ứng dụng cấp Cục, tại ứng dụng này không tự sinh mã số thuế. Ứng dụng này được sử dụng trong giai đoạn chưa có hạ tầng truyền thông của ngành Tài chính.

+ Mô hình tập trung (TINCC): Ứng dụng xử lý và lưu trữ cơ sở dữ liệu tập trung tại Cục thuế, do đó có đầy đủ các chức năng cập nhật dữ liệu và sinh mã số thuế, tại ứng dụng này không còn chức năng truyền/nhận dữ liệu nữa, giao diện người dùng tại các máy trạm ở Chi cục là các trang HTML tải về từ Server đặt tại Cục thuế.

Hiện nay, ngành thuế đã phân cấp cho các Chi cục thuế thực hiện cấp mã số thuế cho hộ kinh doanh cá thể, cá nhân nộp thuế thu nhập cao, Chi cục cũng có thể thực hiện thay đổi thông tin, đóng, mở mã số thuế cho người nộp thuế thuộc chi cục quản lý thu thuế. Việc phân cấp này không chỉ tăng tính chủ động cho Chi cục mà còn có thể thực hiện cấp mã số thuế với số lượng lớn hơn, thời gian cấp nhanh hơn trước rất nhiều (Hơn 1 triệu mã số thuế của hộ kinh doanh cá thể được cấp năm 1998 khi thực hiện Luật thuế Giá trị gia tăng đều do Cục thuế cấp).

Quá trình cấp mã số thuế cho cá nhân kinh doanh được thực hiện như sau:

- Người nộp thuế nhận và điền các thông tin đăng ký thuế vào tờ khai theo mẫu 03-ĐK-TCT hoặc 03.1-ĐK-TCT, gửi kèm bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bản sao chứng minh nhân dân cho Chi cục thuế thông qua bộ phận 1 cửa, cán bộ nhận hồ sơ kiểm tra sơ bộ, viết phiếu hẹn ghi rõ ngày trả kết quả. Việc tiếp nhận các loại hồ sơ thuế mới chỉ được tin học hoá ở cấp Cục, do đã có phần mềm theo dõi nhận trả hồ sơ thuế QHS, cán bộ nhận hồ sơ chỉ việc nhập tên, loại hồ sơ, phần mềm sẽ tự động xác định hạn trả, in phiếu hẹn trả kết quả, đồng thời theo dõi toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ đó trong nội bộ Cục thuế. Ở cấp Chi cục thuế công việc nhận, theo dõi và trả kết quả vẫn còn làm thủ công.

- Cán bộ làm công tác cấp mã số thuế nhận hồ sơ chuyển đến từ bộ phận 1 cửa, kiểm tra đầy đủ các thông tin và nhập vào phần mềm đăng ký thuế (TINCC). Sau khi người sử dụng bấm nút Ghi, phần mềm sẽ tự động sinh mã số thuế, tuy nhiên mã số sẽ có trạng thái 80 (Chờ Tổng cục thuế xác nhận) nên sẽ chưa in được giấy chứng nhận đăng ký thuế. Dữ liệu đã nhập sẽ được truyền ngay lên ứng dụng đăng ký thuế của Tổng cục thuế, để kiểm tra thông tin trong toàn quốc, sau đó truyền kết quả trở lại cho ứng dụng TINC và TINCC với 25 trạng thái của mã số thuế như: 00 – OK đầy đủ thông tin, cho phép in Giấy chứng nhận đăng ký thuế; 04 - thiếu số chứng minh nhân dân hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chỉ in được thông báo mã số thuế; 20 – trùng cấp Tổng cục đang chờ xem xét lại vv...

- Sau khi có kết quả trả về của ứng dụng cấp Tổng cục, cán bộ cấp mã số thuế in Giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế, chuyển bộ phận 1 cửa để trả cho người nộp thuế đúng hạn quy định. Do việc cấp mã số thuế, truyền nhận dữ liệu giữa các cấp được phần mềm xử lý tự động trên cơ sở khai thác hạ tầng truyền thông của ngành từ Chi cục thuế lên đến Tổng cục thuế nên kết quả hầu hết đã có trong ngày.

Theo quy định tại Thông tư 85/2007/TT-BTC, Cơ quan Thuế có trách nhiệm cấp chứng nhận đăng ký thuế chậm nhất không quá 5 ngày làm việc đối với các hồ sơ đăng ký thuế nộp trực tiếp tại các Cục thuế và 10 ngày đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại các Chi cục thuế, tính từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đăng ký thuế. Tuy nhiên nhờ có sự hỗ trợ của CNTT nên thời gian cấp mã số thuế có thể rút ngắn lại, tại Cục thuế Thanh Hoá có quy định: Thời gian giải quyết cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế (NNT) tối đa là 4 ngày, kể từ ngày cơ quan thuế nhận đủ hồ sơ và sau 3 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của Bộ phận “một cửa” bàn giao, Bộ phận cấp mã số thuế phải chuyển kết quả cho Bộ phận “một cửa” để trả cho NNT theo phiếu hẹn

Như vậy ngành thuế đã có một số điều kiện và khả năng ban đầu để cấp mã số thuế cho toàn dân, vấn đề chỉ là các giải pháp về mặt kỹ thuật như nâng cấp các ứng dụng cấp mã số thuế hiện nay cho phù hợp với các quy định của Luật thuế TNCN, sửa chức năng cấp mã số thuế cho cá nhân nộp thuế thu nhập cao, bổ xung các chức năng cấp mã số thuế cho người phụ thuộc, trang bị thêm các máy chủ cấu hình cao cho cấp Tổng cục thuế và một số Cục thuế lớn, có số lượng người nộp thuế đông, tăng dung lượng đường truyền từ Chi cục lên Cục và từ Cục lên Tổng cục thuế.

Một số việc cần phải được sớm giải quyết:

- Số lượng người nộp thuế và người phụ thuộc sẽ là rất lớn, dự kiến đến cuối năm nay Dự thảo Luật thuế TNCN mới được trình lên Quốc hội xem xét, và khả năng sẽ có hiệu lực từ 01/01/2009, như vậy chỉ có một khoảng thời gian là 1 năm, lại còn phải đợi các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật, thì thời gian thực tế cho việc tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế đăng ký, kê khai, thời gian cho cơ quan thuế nhập dữ liệu và thực hiện cấp mã số là không còn nhiều so với khối lượng công việc phải thực hiện. Việc cấp mã số thuế cho cá nhân sẽ được giao cho các Chi cục thuế đảm nhiệm do đó cần phải có kế hoạch đào tạo bổ xung nhân lực cho bộ phận cấp mã số thuế tại các Chi cục thuế. Qua nắm bắt ở các Chi cục thuế thuộc Cục thuế Thanh Hoá thì hầu hết công tác cấp mã số thuế đều do cán bộ tin học kiêm nhiệm mặc dù giỏi về tin học nhưng lại không thạo về nghiệp vụ, vì vậy trong thời gian trước mắt cần bố trí thêm cán bộ nghiệp vụ chuyên trách nhằm nâng cao chất lượng công tác đăng ký thuế và cấp mã số thuế.

- Về mặt nghiệp vụ, theo quy định gần đây nhất tại điểm 3.1 Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/07/2007 của Bộ Tài Chính: “Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng người nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo qui định của Luật, Pháp lệnh thuế, phí và lệ phí (gọi chung là Pháp luật về thuế), bao gồm cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Mã số thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc”. Để thực hiện quy định trên, đảm bảo tính chính xác và duy nhất của mã số thuế, tại các phần mềm ứng dụng đămg ký thuế hiện nay, ngành thuế đang áp dụng như sau: Đối với hộ cá thể trường dữ liệu đóng vai trò khoá (key) là số chứng minh nhân dân, đối với các doanh nghiệp là số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đối với tổ chức khác là quyết định thành lập.

Vấn đề này đang thực hiện được vì hộ kinh doanh cá thể hoặc cá nhân người nộp thuế thu nhập cao đều là người trưởng thành và đều đã có, hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng minh nhân dân. Nhưng với những người phụ thuộc thì không chỉ có người trưởng thành, mà còn có rất nhiều trẻ em, kể cả trẻ ngay từ khi mới được sinh ra đã là người phụ thuộc và cũng cần được cấp mã số ngay, những trường hợp này sẽ không có giấy chứng minh nhân dân và như vậy thông tin cần thiết để làm khoá (key) là không có. Để có thể cấp mã số trong trường hợp này có thể sử dụng thông tin trong giấy chứng sinh, giấy khai sinh hoặc có thể cấp mã số của con là mã 13 số theo mã số của mẹ (mã số phụ thuộc, tương tự như trường hợp cấp mã số cho công ty con, 10 số đầu là mã công ty mẹ, 3 số tiếp theo là số thứ tự của công ty con).

- Tổng cục thuế cũng cần sớm có kế hoạch nâng cấp ứng dụng TINCC, vì hiện nay ứng dụng này chạy rất chậm, nếu cần phải sử dụng để cấp một số lượng lớn mã số thuế thì chắc chắn là không đáp ứng được. Ngoài tại mỗi cục thuế cũng cần phải được cấp thêm Database Server, Web server v.v., tăng cường thêm cán bộ tin học để triển khai và hỗ trợ riêng cho các ứng dụng liên quan đến thuế thu nhập cá nhân.

Có thể thấy, dự thảo luật thuế TNCN được thông qua sẽ vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn cho sự phát triển hệ thống công nghệ thông tin của ngành thuế, đặc biệt là việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xây dựng cơ sở dữ liệu về người nộp thuế với một kho thông tin khổng lồ, cùng với đó là sự cần thiết phải xây dựng một trung tâm dữ liệu tài chính lưu giữ tất cả hồ sơ về tài sản và thu nhập của người nộp thuế trên toàn quốc.

Với những kinh nghiệm thu được từ việc triển khai thành công 2 Luật thuế Giá trị gia tăng và Thu nhập doanh nghiệp, kinh nghiệm tổ chức triển khai cấp mã số thuế cho trên 2.517.000 tổ chức, cá nhân người nộp thuế, tin tưởng rằng ngành thuế nói chung và hệ thống CNTT của ngành nói riêng sẽ tiếp tục phát huy, hoàn thành tốt việc thực hiện Luật thuế TNCN, đưa Luật này vào cuộc sống.

 Thuế TNCN đã được rất nhiều nước trên thế giới thực thi với tên gọi khá mỹ miều - “nữ hoàng” trong các sắc thuế. Đây là loại thuế trực thu, luôn mang tính lũy tiến (người giàu hơn phải đóng góp với tỉ lệ cao hơn), nhạy cảm hơn, khó thu hơn (vì đánh trực tiếp vào túi tiền của từng người), nhưng công bằng hơn so với thuế gián thu (đánh lên hàng hóa và tiêu dùng). Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng số thu ngân sách của các nước đã thực hiện sắc thuế này cũng rất cao, chẳng hạn: Thái Lan, Malaysia, Philipine khoảng 12 -16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp …khoảng từ 30-40%.










(Nguyễn Văn Bình - Cục Thuế Thanh Hóa)