Đề xuất giảm mức thuế suất phổ thông xuống còn 20% đối với DNVVN

Nhằm chia sẻ, hỗ trợ, doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thu hút đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến các cơ quan liên quan và cộng đồng doanh nghiệp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN (dự án Luật thuế TNDN).

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Theo đó, dự án Luật thuế TNDN dự kiến sửa đổi, bổ sung 10/20 điều của Luật hiện hành, gồm 8 nhóm vấn đề với 18 nội dung, trong đó, nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu là về thuế suất, về ưu đãi thuế, về thu nhập miễn thuế và thu nhập chịu thuế, về các khoản chi được trừ, không được trừ…

Bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế

Để phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với quy định của các pháp luật liên quan, khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn vào lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, dự thảo Luật bổ sung vào diện thu nhập miễn thuế đối với một số khoản thu nhập.

Cụ thể, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp xu thế tiến bộ của thế giới và khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư sử dụng công nghệ cao, công nghệ sản xuất sạch, công nghệ mới thân thiện với môi trường, Bộ Tài chính bổ sung quy định miễn thuế thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ.

Ngoài ra, để đảm bảo chính sách minh bạch, rõ ràng, đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ của hệ thống pháp luật và cơ sở pháp lý trong thực hiện, thu nhập từ hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu của nhà nước của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, thu nhập từ hoạt động tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác của ngân hàng chính sách xã hội cũng sẽ được miễn thuế thu nhập.

Miễn thuế thu nhập phần thu nhập không chia dùng để đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học tư thục theo quy định của Luật Giáo dục đại học. Bộ Tài chính giải thích, việc bổ sung quy định này nhằm đảm bảo minh bạch chính sách.

Nới rộng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo

Để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, tại Khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật có quy định: nới rộng tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 10% lên 15%, đồng thời loại bỏ một số khoản chi không mang tính chất quảng cáo, khuyến mại như chiết khấu thanh toán, chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí ra khỏi diện chi phí khống chế để phản ánh đúng bản chất của khoản chi.

Bổ sung vào diện chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với khoản tài trợ theo chương trình của Nhà nước đối với các địa phương thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Luật cũng bổ sung quy định về khống chế chi phí lãi tiền vay không được trừ vào chi phí đối với khoản vay vượt quá nhiều lần vốn chủ sở hữu (tỷ lệ 4:1 đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tỷ lệ 10:1 đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng) và lộ trình thực hiện từ năm 2016.

Bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện hoặc quỹ mang tính an sinh xã hội cho người lao động.

Để đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi và chủ động cho doanh nghiệp, dự thảo Luật cũng đã bỏ quy định doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan thuế về các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng do doanh nghiệp tự xây dựng để xác định chi phí hợp lý.

Ngoài ra, để góp phần quản lý, kiểm soát thu nhập của tổ chức, nâng cao tính minh bạch, rõ ràng, từ đó đảm bảo sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp, dự thảo Luật bổ sung quy định về điều kiện khoản chi được trừ phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với những hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên và có quy định loại trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để đảm bảo tính khả thi, phù hợp với thực tiễn do hạ tầng công nghệ và mạng lưới ngân hàng còn chưa thật đồng đều giữa các vùng miền.

Giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống còn 20%

Về thuế suất, dự thảo Luật điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống 23%, đồng thời điều chỉnh giảm mức thuế suất từ 25% xuống còn 20% áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (sử dụng dưới 200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng).

Theo Bộ Tài chính, việc đề xuất giảm thuế suất xuống còn 20% áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là do nhóm đối tượng này chiếm số lượng lớn, dễ bị chịu tác động, ảnh hưởng trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế cần có biện pháp tháo gỡ kịp thời. Bên cạnh đó, nhóm đối tượng này cũng là loại hình doanh nghiệp thu hút phần lớn lực lượng lao động, tạo việc làm cho xã hội cũng như là cơ sở hình thành, phát triển thành doanh nghiệp lớn trong tương lai.

Bộ Tài chính cũng cho biết, so với các nước trong khu vực và thế giới thì mức thuế suất phổ thông giảm xuống 23% (riêng doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa chỉ còn 20%) là mức tương đối thấp, đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư.

Tại Malaysia, từ năm 2005 đến 2009 đã 3 lần điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông, từ 28% trong năm 2005 xuống 25% trong năm 2009. Thái Lan cũng giảm từ mức 30% trong năm 2005 xuống còn 23% trong năm 2012.

Thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn được ưu đãi thuế

Bên cạnh việc điều chỉnh giảm mức thuế suất phổ thông, trên cơ sở kết quả tổng kết đánh giá 4 năm thực hiện Luật và rà soát các quy định về ưu đãi thuế TNDN tại các văn bản pháp luật chuyên ngành, dự thảo Luật đã bổ sung thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn được hưởng ưu đãi.

Theo đó, bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với một số đối tượng: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư sản vật liệu mới, năng lượng mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch; phát triển công nghệ sinh hoạt; bảo vệ môi trường; Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp có dự án đầu tư mới có quy mô đầu tư và phạm vi tác động rộng lớn đến kinh tế - xã hội, đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ.

Dự thảo Luật cũng bổ sung vào diện áp dụng thuế suất 10% đối với thu nhập từ thực hiện dự án nghiên cứu phát triển; dự án ứng dụng công nghệ cao; dự án ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao. Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua; Thu nhập từ hoạt động báo in (kể cả quảng báo trên báo) của cơ quan báo chí; Thu nhập từ hoạt động xuất bản của cơ quan xuất bản theo quy định của Luật xuất bản; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án, như trồng, chăm sóc rừng, nuôi trồng nông, lâm, thủy sản trên đất hoang hóa hoặc vùng nước chưa được khai thức, sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản xuất, khai thác và tinh chế muối, đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ.

Bổ sung áp dụng thuế suất 20% đối với: Tổ chức tài chính vi mô; thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án, như trồng cây dược liệu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; dịch vụ kỹ thuật trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp, bảo vệ cây trồng và vật nuôi, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm; phát triển ngành nghề truyền thông.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung địa bàn ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp, trừ khu công nghiệp thuộc các thành phố trực thuộc trung ương.

Dự kiến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN sẽ có hiệu lực kể từ 01/01/2014. Với các nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung như nêu trên, khi Luật được thông qua sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp có điều kiện tăng tích tụ, tích luỹ, tái đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời thu hút và khuyến khích đầu tư mới, đầu tư mở rộng, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế.

Theo Bộ Tài chính, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN sẽ làm giảm thu ngân sách NSNN trong một vài năm đầu nhưng có tác động tăng thu cho những năm sau do thu hút đầu tư tăng lên, đồng thời phần tiền thuế được giảm sẽ được tái đầu tư và tiêu dùng, do đó Nhà nước có thể thu được thông qua các loại thuế gián thu và thuế TNCN qua việc người lao động được tăng phúc lợi từ tiền thuế được giảm.

Bên cạnh đó, nhờ việc giảm nghĩa vụ thuế, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, từ đó góp phần đưa kinh tế phát triển, đảm bảo nguồn thu bền vững cho ngân sách…

(MH)