Điểm mới trong quản lý dự án đầu tư CNTT sử dụng vốn ngân sách

Trong một thời gian dài, việc triển khai các dự án CNTT gặp nhiều khó khăn, lúng túng vì thiếu các quy định, hành lang pháp lý phù hợp. CNTT có những đặc thù riêng nhưng đã bị xếp chung một cách khập khiễng vào các dự án công trình xây lắp và “bị” quản lý như các công trình xây dựng.

Điểm mới trong quản lý dự án đầu tư CNTT sử dụng vốn ngân sách

Sau nhiều năm chờ đợi, một chính sách quản lý mới dành riêng cho lĩnh vực đầu tư CNTT sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đang được kỳ vọng sẽ thúc đẩy hoạt động ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước đạt hiệu quả hơn trong giai đoạn 2008 – 2010. 

Bắt buộc sử dụng phần mềm nhà nước đã đầu tư

Giai đoạn vừa qua, tình trạng đầu tư trùng lặp khi triển khai các dự án CNTT trong các cơ quan Nhà nước diễn ra khá phổ biến. Chẳng hạn, hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cơ quan Nhà nước cùng lấy vốn ngân sách để trả tiền mua một sản phẩm phần mềm (ví dụ phần mềm quản lý văn phòng) về sử dụng. Điều này sẽ được khắc phục nếu Nhà nước đứng ra mua sản phẩm và sở hữu luôn phần mềm đó, khi các cơ quan Nhà nước có nhu cầu thì sẵn sàng triển khai, không phải mất thêm chi phí.

Theo chính sách quản lý đầu tư dự án CNTT sử dụng vốn Nhà nước (sắp được Chính phủ ban hành), việc quản lý đầu tư dự án ứng dụng CNTT phải bảo đảm mục tiêu mà dự án đề ra, tránh trùng lặp, lãng phí, phải phù hợp với những yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường, tính chất đặc thù của CNTT và những quy định pháp luật quốc gia, quốc tế về bảo vệ sở hữu trí tuệ. Với định hướng này, Nhà nước sẽ bắt buộc các cơ quan Nhà nước phải sử dụng hoặc nâng cấp, sửa đổi phần mềm có tính năng kỹ thuật tương đương có sẵn để sử dụng. Cụ thể là sẽ có một danh mục các sản phẩm phần mềm ứng dụng đã được xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước, khi đó, các cơ quan ứng dụng một phần mềm có tính năng kỹ thuật tương đương với phần mềm ứng dụng đã có trong danh mục này thì không được đầu tư xây dựng mới, mà phải đề nghị Nhà nước cung cấp phần mềm đã có. Nếu phần mềm trong danh mục đáp ứng được nhu cầu quản lý của đơn vị thì sử dụng ngay, còn nếu chưa phù hợp có thể sửa đổi, nâng cấp.

Trong trường hợp phần mềm ứng dụng không có trong danh mục phần mềm Nhà nước đã đầu tư nhưng có bán trên thị trường, nếu chi phí mua phần mềm sẵn có thấp hơn chi phí xây dựng phần mềm mới thì cơ quan Nhà nước không được xây dựng mới mà phải mua sản phẩm đã có trên thị trường.

Xác định phương pháp định giá phần mềm

Vấn đề phức tạp, khó khăn nhất trong quản lý đầu tư dự án CNTT nằm ở việc sửa đổi, nâng cấp và xây dựng các phần mềm ứng dụng không có trên thị trường (còn gọi là phần mềm may đo, ví dụ như các phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ...), bởi vì rất khó để có thể xác định chi phí cho loại sản phẩm này.

Theo quy định quản lý mới thì chi phí sửa chữa, nâng cấp và xây dựng phần mềm được xác định dựa vào 1 trong các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích chấm điểm chức năng (Function Point Analysis) – phương pháp chuẩn xác định độ lớn chức năng của phần mềm để dựa vào đó định giá sản phẩm phần mềm.

- Phương pháp phân tích trường hợp sử dụng (Use case point method) – phương pháp đánh giá phần mềm dựa trên các điểm trường hợp sử dụng.

- Phương pháp thống nhất giữa các chuyên gia xác định chi phí xây dựng phần mềm bằng cách lấy ý kiến tư vấn của một nhóm chuyên gia.

Chính phủ cũng đã quy định chủ đầu tư dự án CNTT có thể tự xác định phương pháp tính giá phần mềm.

Cách tính chi phí trong xây dựng dự án CNTT

Theo chính sách quản lý mới, tổng dự toán của dự án CNTT được lập căn cứ theo từng loại chi phí tương ứng với từng dạng công việc của dự án. Tùy từng dự án, tổng dự toán có thể bao gồm một hoặc một số loại chi phí, bao gồm:

- Chi phí xây dựng công trình phục vụ ứng dụng CNTT đối với các dự án có phần xây dựng công trình phục vụ ứng dụng CNTT. Chi phí này được xác định theo quy định về quản lý chi phí xây dựng công trình.

- Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm chi phí phần mềm đóng gói, thiết bị số và các thiết bị khác gắn liền với dự án được xác định trên cơ sở khối lượng, số lượng, chủng loại phần mềm, thiết bị cần mua và giá cả phần mềm, thiết bị công bố trên website hoặc báo giá của các nhà cung cấp lớn trong và ngoài nước ở thời điểm lập dự toán. Chi phí mua sắm các sản phẩm và thiết bị bao gồm chi phí lắp đặt, hiệu chỉnh, bảo hành, đào tạo và chuyển giao công nghệ, thuế và phí vận chuyển ...

- Chi phí xây dựng hoặc nâng cấp mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, trang thông tin điện tử được xác định trên cơ sở yêu cầu và khối lượng công việc, thời gian thực hiện, số lượng và thù lao tính theo ngày làm việc của lao động kỹ thuật cùng các chi phí liên quan khác...

- Chi phí đào tạo và tập huấn sử dụng hoặc chuyển giao công nghệ: Tùy theo dự án có thể tính chi phí này riêng hoặc tính gộp vào chi phí xây dựng, nâng cấp phần mềm hoặc mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, trang thông tin điện tử. Trong trường hợp tính riêng, chi phí này được xác định trên cơ sở số lượng cán bộ cần đào tạo, tập huấn; nội dung chương trình và thời gian đào tạo, tập huấn; tài liệu cần cung cấp cho học viên; số lượng và thù lao tính theo ngày làm việc của giảng viên cùng các chi phí liên quan khác, nếu có.

- Chi phí cài đặt, kiểm thử, bảo hành phần mềm: Tùy theo dự án, chi phí này cũng có thể tính vào chi phí mua sắm, sửa đổi, nâng cấp, xây dựng phần mềm hoặc tính riêng. Trong trường hợp tính riêng, chi phí này được xác định trên cơ sở yêu cầu và khối lượng công việc, thời gian thực hiện, số lượng và thù lao tính theo ngày làm việc của lao động kỹ thuật cùng các chi phí liên quan khác...

- Chi phí quản lý dự án: Bao gồm các khoản chi phí cần thiết để chủ đầu tư tổ chức thực hiện quản lý dự án và được xác định bằng định mức tỷ lệ trên tổng mức đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

- Chi phí tư vấn: Tùy từng dự án, có thể bao gồm chi phí tư vấn lập hoặc thẩm tra báo cáo phân tích sơ bộ phần mềm ứng dụng mới, tư vấn thẩm tra tổng mức đầu tư, tư vấn đặc tả phần mềm ứng dụng mới, tư vấn giám sát thi công các công việc của dự án, và các chi phí tư vấn khác... 

- Chi phí dự phòng: Được xác định để dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh khi thực hiện dự án và trong mọi trường hợp không được vượt quá 10% tổng các chi phí cho các công việc thực tế của dự án.

Tư vấn CNTT sẽ được “đưa vào khuôn phép”

Hoạt động tư vấn dù rất quan trọng với ứng dụng CNTT nhưng trong các dự án CNTT thời gian qua lại rất mờ nhạt và “lộn xộn” do chưa có quy định cụ thể. Tuy nhiên, với chính sách quy định mới về quản lý đầu tư dự án CNTT sử dụng vốn ngân sách, hoạt động tư vấn CNTT sẽ được quản lý chặt chẽ.

Các đơn vị tư vấn, thẩm định dự án CNTT sẽ phải đáp ứng các điều kiện năng lực như phải có tư cách pháp nhân doanh nghiệp CNTT, có chuyên gia CNTT đủ trình độ năng lực đảm nhiệm công việc theo hợp đồng. Đặc biệt, các nhà tư vấn CNTT phải đạt điều kiện bắt buộc là phải có chứng chỉ hành nghề tư vấn do Nhà nước cấp (nhằm xác nhận năng lực hành nghề).

Bên cạnh đó, một quy định khác mang tính đặc thù của lĩnh vực CNTT là: Đối với dự án hoặc phần dự án sửa đổi, nâng cấp hoặc xây dựng phần mềm ứng dụng, thì các đơn vị tư vấn lập, thẩm định dự án, lập thiết kế dự án (ngoại trừ đơn vị tư vấn giám sát) cũng đều được quyền tham gia đấu thầu thực hiện sửa đổi, nâng cấp, xây dựng phần mềm ứng dụng ở giai đoạn tiếp theo (trước đây, theo quy định trong quản lý xây dựng cơ bản, đơn vị tư vấn thì không được tham gia triển khai dự án).

Nhà nước quản lý sản phẩm CNTT đã đầu tư như thế nào?

Nhà nước sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án CNTT và chủ đầu tư phải cập nhật các thông tin về các phần mềm ứng dụng được tạo mới, nâng cấp hoặc sửa đổi vào cơ sở dữ liệu ứng dụng CNTT quốc gia để phục vụ hoạt động thẩm định các dự án CNTT trong tương lai, qua đó tránh đầu tư trùng lặp, lãng phí nguồn ngân sách...

Các phần mềm được xây dựng hoàn toàn bằng vốn ngân sách Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước và phải được công bố công khai, được cung cấp miễn phí cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, các doanh nghiệp Nhà nước. Với các trường hợp khác, việc sử dụng các phần mềm thuộc sở hữu Nhà nước phải xin phép và phải trả tiền bản quyền trừ phi có quy định khác.

Với các phần mềm được xây dựng hoàn toàn bằng ngân sách nhưng sử dụng các thành phần, mã nguồn phải trả tiền hoặc lệ phí bản quyền thì các cơ quan Nhà nước phải trả khoản tiền hoặc lệ phí bản quyền đó khi sử dụng phần mềm.

Như vậy, cùng với các chính sách quy định về định mức và đơn giá đối với các sản phẩm CNTT đang được Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Bộ Tài chính hoàn chỉnh, các chính sách về quản lý đầu tư dự án CNTT sử dụng vốn ngân sách Nhà nước khi được ban hành sẽ tạo nên hành lang pháp lý đầy đủ hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước giai đoạn 2008 – 2010.

(Vũ Hải)