Đưa ứng dụng CNTT - TT phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển của đất nước

Với chủ đề “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT - TT phục vụ hội nhập và phát triển”, Hội thảo Hợp tác phát triển CNTT - TT Việt Nam lần XI diễn ra vào trung tuần tháng 9 vừa qua tại Ninh Thuận đã thu hút sự quan tâm của hơn 600 đại biểu đại diện của UBND, Sở Bưu chính -  Viễn thông, Sở Khoa học công nghệ, Hội Tin học của 64 tỉnh - thành phố cùng các đại biểu đến từ các Hiệp hội ngành, nghề liên quan đến lĩnh vực CNTT - TT.

Đưa ứng dụng CNTT - TT phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển của đất nước

Với cách nhìn nhận và đánh giá tương đối toàn diện và khách quan về tình hình ứng dụng CNTT ở Việt Nam trong thời gian qua, Hội thảo còn đưa ra những kinh nghiệm hay, đề xuất các giải pháp cụ thể… nhằm đưa CNTT - TT vào ứng dụng hiệu quả hơn, phục vụ đắc lực cho yêu cầu phát triển đất nước trong thời gian tới.

Ứng dụng CNTT - mới chỉ là “bề nổi”

Nếu nhìn vào các con số thống kê thì quả thực tình hình ứng dụng CNTT của Việt Nam rất khả quan: tính đến hết tháng 6/2006 đã có hơn 60% số cơ quan chính quyền cấp tỉnh có mạng LAN, hơn 80% cơ quan có cơ sở dữ liệu phục vụ các hoạt động tác nghiệp (kế toán 80%, quản lý công văn 55%, quản lý nhân sự 40%), hơn 90% cơ quan chính quyền cấp tỉnh có kết nối Internet (trong đó 78,5% kết nối băng thông rộng); 61/64 tỉnh có trang thông tin điện tử - phương tiện giao tiếp giữa các cơ quan hành chính với người dân và doanh nghiệp. Ở cấp trung ương thì có 24/26 bộ và các cơ quan ngang bộ đã xây dựng trang thông tin điện tử, trong tổng số 39 cơ quan bộ, ngang bộ và các cơ quan thuộc chính phủ có 29 đơn vị đã xây dựng trang thông tin điện tử. Hầu hết các trang web của bộ, ngành, địa phương đang ở giai đoạn cung cấp thông tin chung về đơn vị. Có một số trang cung cấp thông tin về một số dịch vụ hành chính công và các mẫu đơn cho phép người dân tải về, in ra và điền thủ công. Đã nâng cao một bước nhận thức của lãnh đạo, cán bộ, công chức về hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Đào tạo đội ngũ cán bộ khá đông đảo, góp phần nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho một bộ phận cán bộ, công chức. Bước đầu hình thành hạ tầng kỹ thuật CNTT, trang tin điện tử phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của các bộ, cơ quan ngang bộ… Một số ứng dụng CNTT đã có tác dụng thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước ở các cấp, các ngành.

Tuy nhiên, nếu đi sâu hơn để xem xét về hiệu quả thu được từ các ứng dụng CNTT, thì quả thực cũng còn nhiều điều đáng “lo ngại”. Theo nhận xét của ông Trần Quang Cường - Phó vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Thông tin Truyền thông): chưa có được một Hệ thống thông tin thực sự để phục vụ chỉ đạo, điều hành, quản lý; Hiệu quả ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước còn thấp; Các dịch vụ hành chính công trên mạng phục vụ người dân và doanh nghiệp vẫn đang ở giai đoạn khởi động; Nội dung thông tin trên các website không được cập nhật thường xuyên, chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cơ bản của người dân và doanh nghiệp; Hạ tầng kỹ thuật CNTT của các cơ quan nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước và cung cấp thông tin, dịch vụ hành chính công cho người dân, doanh nghiệp; Đầu tư cho mạng WAN của chính phủ triển khai chậm; Các cơ sở dữ liệu quốc gia, các hệ thống bảo đảm an toàn bảo mật đang trong quá trình hình thành.

Về tổ chức thực hiện và nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT cũng chưa đáp ứng yêu cầu: hệ thống tổ chức chuyên trách CNTT không thống nhất, không rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ nên hoạt động chưa hiệu quả; Đào tạo cán bộ, công chức về ứng dụng CNTT chưa gắn với việc sử dụng, khai thác các phần mềm ứng dụng và cơ sở dữ liệu; Phương pháp, nội dung đào tạo, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất còn lạc hậu. Trong khi đó cơ chế quản lý, đầu tư chưa phù hợp, thiếu hạng mục chi cho ứng dụng CNTT trong ngân sách nhà nước, thiếu định mức kinh tế - kỹ thuật cho xây dựng phần mềm, xây dựng cơ sở dữ liệu…

Một ví dụ cụ thể được ông Dương Ngọc Hưng - Giám đốc Sở Bưu chính Viễn thông Ninh Thuận nêu lên tại hội thảo, đó là đã 5 năm triển khai Chỉ thị 58 mà ở Ninh Thuận nhận thức về vai trò, vị trí của CNTT vẫn chưa sâu, đặc biệt là ở bộ phận lãnh đạo cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Đầu tư cho phần mềm chưa tương xứng, đào tạo nguồn nhân lực CNTT chưa theo kịp yêu cầu. Các doanh nghiệp hầu như chưa tiếp cận và chưa ứng dụng CNTT vào công việc quản trị. Thị trường CNTT - TT của Ninh Thuận vẫn nhỏ bé…

Nguyên nhân nhiều, nhưng bao giờ tháo gỡ?

Tại Hội thảo, các đại biểu đều nhất trí cho rằng nếu không tìm được nguyên nhân, thì không thể giải quyết được các vấn đề mà CNTT đang phải đối mặt và có nghĩa là CNTT cũng không thể phát triển được.

Nhưng trên thực tế thì nguyên nhân cũng đã được “tìm thấy” và hơn nữa lại tìm được rất nhiều. Ông Trần Quang Cường chỉ ra các nguyên nhân khiến việc ứng dụng CNTT tại các cơ quan nhà nước rơi vào bế tắc, đó là: các mục tiêu đặt ra chưa sát với thực tế; Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu; Một số cơ chế kinh tế, tài chính, đầu tư không phù hợp với đặc thù của CNTT, mà chưa được sửa đổi hoặc có quy định mới; Không có cơ quan nào chịu trách nhiệm điều phối; không có cơ chế chuyển giao kinh nghiệm, sai sót giống nhau lặp lại nhiều lần, thành công ít được nhân rộng; Chưa có hệ thống chuẩn và kiến trúc thông tin, công tác lập kế hoạch triển khai bị chồng chéo, không có được sức mạnh tổng hợp; Trình độ và năng lực của đội ngũ chuyên gia CNTT trong nước hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Ông Đỗ Nam - đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế thì cho rằng các dự án CNTT ở địa phương chậm là do: không có hoặc có quá ít nhân lực chuyên nghiệp về tư vấn lập và quản lý dự án CNTT ở địa phương; Thiếu chuẩn, thiếu quy tắc vận hành các hệ thống thông tin… Chính vì vậy cần sớm xây dựng các văn bản pháp quy cho dự án CNTT, đặc biệt là định mức chi cho những khoản, mục chưa có quy định như: phần mềm, xây dựng các chuẩn… trong đó có tính tới đặc thù của lao động trí tuệ CNTT. Bộ Thông tin Truyền thông cần có hướng dẫn kịp thời về việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý các dự án CNTT và có chương trình xây dựng các bộ chuẩn quốc gia. Cần phân biệt CNTT không phải là một công trình xây dựng.

Với tư cách là “nhạc trưởng” tham mưu cho chính phủ về lĩnh vực ứng dụng CNTT, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp đã đưa ra 7 giải pháp tháo gỡ những khó khăn nêu trên, đó là:

- Phải tiếp tục đẩy mạnh nhận thức về vai trò của CNTT vì nhận thức là chìa khóa của hành động. Nhận thức về ứng dụng CNTT là thấy rõ: CNTT là chiếc cầu nối, là chất keo dính là chất xúc tác của mọi ngành; CNTT là nền tảng của mọi sự phát triển; CNTT là chìa khóa mở đường của mọi cuộc cách mạng; CNTT + thông tin = trí thức + giàu mạnh + văn minh;

- Xây dựng chiến lược kế hoạch, quy hoạch và kiến trúc mô hình để ứng dụng CNTT một cách khoa học và thành công vững chắc;

- Từ bộ, tỉnh, ngành, huyện, xã đến doanh nghiệp, hộ gia đình đều phải xây dựng các mô hình về ứng dụng CNTT để học hỏi lẫn nhau khi ứng dụng CNTT;

- Ban hành các chính sách kích cầu cho CNTT theo nguyên tắc “đồng tiền nở hoa”;

- Tập trung cao hơn cho đào tạo nhân lực với mũi nhọn là đào tạo thợ cả, thợ bậc cao chứ không chỉ đào tạo đại trà. Đào tạo phải thực hiện cả đại trà, tại chức, tập trung, tập huấn chuyên đề, từ xa, tại chỗ, thậm chí là cả đào tạo thực dụng (đào tạo đến đâu thực hành đến đó).

- Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất với Thủ tướng mô hình Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT ít người nhưng đủ thẩm quyền quyết định, trong đó Thủ tướng là người đứng đầu. Thực hiện kiểm tra, tổng kết để khen chê thưởng phạt công minh và đưa ra các mô hình hay để dễ dàng nhân rộng;

- Tích cực chủ động hợp tác quốc tế để tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm của thế giới và tìm kiếm các nguồn tài trợ.

Nhìn lại thứ hạng sẵn sàng cho ứng dụng CNTT qua ICT index 2006

Theo thông lệ, Hội Tin học Việt Nam đã công bố Bản báo cáo Việt Nam ICT Index 2006 dành cho các tỉnh, thành phố và các bộ, ngành trực thuộc Trung ương. Đây là bản báo cáo được thực hiện thường niên vào tháng 8 hàng năm do Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT phối hợp cùng với Hội Tin Học Việt Nam thực hiện.

ICT Index 2006 được xếp hạng dựa trên nhiều chỉ tiêu nhỏ thuộc các nhóm chỉ tiêu về hạ tầng kỹ thuật CNTT-TT; hạ tầng nhân lực CNTT-TT; ứng dụng CNTT-TT; môi trường tổ chức - chính sách. Riêng nhóm các tỉnh, thành có thêm chỉ tiêu sản xuất - kinh doanh CNTT-TT.

Bản báo cáo này đã cho thấy có nhiều đơn vị đạt điểm cao ở chỉ tiêu cung cấp dịch vụ công trên Internet cho người dân. Đơn cử ở nhóm các bộ ngành, Bộ Giáo dục Đào tạo đã có bước nhảy “ngoạn mục” từ vị trí 25 (năm 2005) lên vị trí thứ nhất năm 2006 nhờ việc cung cấp những thông tin chuyên môn, giáo án điện tử của ngành Giáo dục lên mạng Internet.

Bộ Tài Chính từ vị trí thứ 3 (năm 2005) lên vị trí thứ 2, do triển khai ứng dụng CNTT mạnh mẽ trên các lĩnh vực tài chính, thuế, kho bạc, hải quan… Còn Bộ Công Thương (trước là Bộ Thương Mại) năm 2005 đứng đầu thì nay rớt xuống vị trí thứ 3. Các bộ khác có sự nhảy vọt gồm Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (từ hạng 26 lên 11), Bộ Thủy sản (nay sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) từ hạng 24 lên 15, Uỷ ban Dân tộc (từ hạng 21 lên 16), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (từ hạng 23 lên 17).

Bên cạnh những bộ, ngành có sự tiến bộ về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT có nhiều đơn vị tụt hạng như: Bộ Giao thông Vận tải từ vị trí thứ 4 tụt xuống vị trí 14, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ hạng 6 xuống hạng 22. Bộ Tư pháp từ hạng 7 xuống hạng 13. Tổng cục Du lịch từ hạng 8 xuống hạng 12. Viện Khoa học – công nghệ Việt Nam từ hạng 12 xuống hạng 20, Bộ Xây dựng từ hạng 9 xuống hạng 28, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) từ hạng 11 tụt xuống hạng 26.

Trong nhóm 64 tỉnh, thành, các hạng 1 và 2 không thay đổi so với năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là đơn vị tiên phong trong cả nước về phát triển, ứng dụng CNTT-TT và tiếp tục giữ vững ngôi vị thứ nhất, vị trí thứ hai thuộc về thành phố Hà Nội. Bình Dương và Thừa Thiên - Huế có sự nhảy vọt từ hạng 16 và 12 lên hạng 3 và 4.

(K.Hoa)