Hôm nay Quốc hội bàn về việc sửa Luật quản lý nợ công

(eFinance Online) - Sáng 25/5, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày trước Quốc hội Tờ trình dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi). Đây là lần đầu tiên dự án Luật được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
 
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình tại Quốc hộiBộ trưởng Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình tại Quốc hội

Góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, qua hơn 6 năm triển khai thực hiện Luật, đã góp phần quan trọng trong huy động vốn cho bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước (NSNN); tạo điều kiện cho địa phương huy động vốn vay phát triển kinh tế - xã hội; tạo nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực then chốt thông qua hình thức Chính phủ bảo lãnh và cho vay lại; cơ cấu nợ có chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng vay trong nước, giảm tỷ trọng vay nước ngoài; chủ động bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo cam kết.

Trong giai đoạn 2010-2016, đã phát hành trên 1.277 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ với tốc độ tăng bình quân 36%/năm; huy động được khối lượng lớn vốn ODA, ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài với tổng trị giá cam kết đạt 36,6 tỷ USD, trong đó đã giải ngân 32,8 tỷ USD (khoảng 658 nghìn tỷ đồng) nhằm tăng cường nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo.

Đáng chú ý, Luật Quản lý nợ công cũng tạo điều kiện để tăng cường công tác quản lý nợ chặt chẽ, đảm bảo trả nợ Chính phủ đầy đủ, đúng hạn. Đến cuối năm 2016, các chỉ tiêu nợ về cơ bản nằm trong giới hạn cho phép: nợ công ở mức 63,7% GDP, nợ của Chính phủ ở mức 52,6% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 44,3% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 14,8% tổng thu NSNN.

Dù vậy, sau hơn 6 năm thời gian, Luật Quản lý nợ công 2009 cũng tồn tại một số hạn chế trên hai mặt chủ yếu.

Theo Bộ trưởng Dũng, thứ nhất, về mặt pháp luật đã bộc lộ một số bất cập như quan điểm khác nhau về phạm vi nợ công; sự chưa phân định rõ ràng và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa quản lý nợ công, quản lý ngân sách và đầu tư công; Yêu cầu tách bạch quy định về quản lý vốn vay của Chính phủ theo từng nguồn vốn huy động; các quy định về cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ cũng tồn tại nhiều rủi ro...

Bên cạnh đó, một số quy định về phân định chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các cơ quan có liên quan trong quản lý nợ công đã không còn phù hợp trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 và một số Luật, đặc biệt là các Luật có liên quan trực tiếp đến quản lý nợ công đã được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thực hiện thời gian qua như Luật Đầu tư công năm 2015 và Luật NSNN năm 2015.

Thứ hai, Bộ trưởng nhận xét rằng công tác quản lý nợ công cũng đã bộc lộ một số bất cập chủ yếu như: nợ công, nợ Chính phủ tăng nhanh gây áp lực lớn lên nghĩa vụ trả nợ (ngoài sự gia tăng nợ trong nước), đã có sự gia tăng đáng kể dư nợ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài.

Không tính nợ của DNNN vào nợ công

Trình bày trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh: Dự luật này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật quản lý nợ công hiện hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đặc biệt việc sửa đổi phải góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, bảo đảm an toàn, đáp ứng yêu cầu quản lý nợ công trong tình hình mới.

Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) gồm 10 Chương, 67 Điều so với 7 Chương, 49 Điều của Luật Quản lý nợ công năm 2009. Về bố cục, Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) bổ sung 3 chương mới, 18 Điều so với Luật hiện hành và sửa đổi 44 trong tổng số 49 Điều của Luật hiện hành. Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu và quan điểm sửa đổi Luật nêu trên, Dự thảo Luật có một số nội dung sửa đổi chủ yếu sau:

Về bố cục, Dự thảo Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) bổ sung 3 chương mới, 18 Điều so với Luật hiện hành và sửa đổi 44 trong tổng số 49 Điều của Luật hiện hành.

Nội dung của Luật, Bộ trưởng Dũng đề xuất phải làm rõ về phạm vi, công cụ quản lý nợ công; phân định giữa quản lý ngân sách, đầu tư công và quản lý nợ công; công tác giám sát và đảm bảo an toàn nợ công; quản lý rủi ro; thống kê, kế toán, kiểm tra, giám sát nợ công, nâng cao và gắn trách nhiệm giải trình với chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ công của các cơ quan có liên quan.

Về nguyên tắc quản lý nợ công, mặc dù kế thừa hầu hết nguyên tắc đã nêu tại điều 5 của Luật hiện hành, dự thảo đã bổ sung thêm nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu nợ công trong giới hạn cho phép; gắn trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan đến hoạt động vay, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ và quản lý nợ công. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc "không chuyển khoản nợ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước”...

Theo đó, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, việc sửa đổi Luật Quản lý nợ công nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các quy định của pháp luật nói chung và các quy định liên quan đến công tác quản lý nợ công nói riêng là hết sức cần thiết.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng lưu ý, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, việc tiếp cận nguồn vốn vay ODA ngày càng hạn chế và dần phải tiếp cận với các nguồn vốn kém ưu đãi và nguồn vốn thương mại theo điều kiện thị trường. Do đó, việc phân loại về nguồn vốn vay gắn với tính chất, điều kiện từng nguồn vốn vay của Chính phủ cũng là giải pháp tích cực để có các quy định tương ứng về quản lý sử dụng, từ khâu huy động, xác định đối tượng sử dụng vốn và quy trình quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay của Chính phủ và đảm bảo an toàn nợ theo đúng chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Liên quan đến quản lý, Kiểm toán nhà nước đã hơn một lần bối rối khi khó xác định được con số thực sự của nợ công mà một phần nguyên nhân là do công tác tổ chức quản lý nợ công phân tán.

Nhưng, lần sửa đổi này, Chính phủ vẫn trình Quốc hội giữ nguyên quy định như hiện hành tại Luật Quản lý nợ công 2009 nhằm ổn định bộ máy, không gây xáo trộn tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của ba cơ quan.

Theo đó, Bộ Tài chính là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nợ công, chủ trì đàm phán, ký kết các hiệp định, thỏa thuận vay cụ thể (trừ các thỏa thuận vay với các tổ chức tài chính quốc tế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì). Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thống nhất quản lý vốn vay ODA, trong đó chủ trì vận động, điều phối, đàm phán ký kết các hiệp định khung về ODA và vay ưu đãi. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện vai trò chủ trì đàm phán ký kết các hiệp định vay ODA với các tổ chức tài chính quốc tế (Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á).

(P.V - Tổng hợp)