Olympics Bắc Kinh 2008: Cuộc chạy đua về hạ tầng CNTT

Năm 2000, Trung Quốc được trao quyền đăng cai Olympic 2008. Điều đó không khác gì một phát súng hiệu lệnh cho cuộc chạy đua xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT để phục vụ cho một trong những sự kiện thể thao lớn nhất thế giới.

Olympics Bắc Kinh 2008: Cuộc chạy đua về hạ tầng CNTT

“Công nghệ cao” là một trong ba chủ đề của Olympic Bắc Kinh. Theo Ủy ban Tổ chức Olympic Bắc Kinh (BOCOG), sự kiện này sẽ là sự tập hợp của “những thành tựu khoa học và công nghệ mới nhất của Trung Quốc và quốc tế” và được xem như là “nơi trưng bày những thành tựu công nghệ cao và sức mạnh sáng tạo của thành phố”. Với ngân sách hoạt động được công bố là 2 tỷ đô-la Mỹ, BOCOG ước tính có khoảng 400 triệu đô-la được dành cho 449 dự án khoa học và công nghệ, dù không nói rõ những dự án này là gì.

Vai trò quan trọng của CNTT

Việc chuẩn bị cho Olympic rất khác so với bất kỳ một dự án nào. Ông Jeremy Hore, Giám đốc về tích hợp các hệ thống máy tính cho Olympic 2008 của Công ty Dịch vụ CNTT Atos Origin, trụ sở ở Paris (Pháp), nhận định : “Điều khó nhất là thời hạn đã được ấn định 100%. Đối với những dự án khác, bạn có thể trì hoãn nếu cần, dù điều này có thể gây tác động xấu.”

Quy mô của Olympic cũng khác với bất kỳ sự kiện nào. Ví dụ như vòng chung kết bóng đá thế giới (World Cup), so với Olympic, tuy thời gian kéo dài hơn và thỉnh thoảng diễn ra trong một khu vực rộng lớn hơn, nhưng số lượng vận động viên ít hơn nhiều và chỉ có một môn thể thao được thi đấu nên nhu cầu về dữ liệu ít hơn nhiều so với Olympic. Trong khi đó, như ở Olympic Bắc Kinh, có đến 28 môn thể thao và 302 sự kiện các loại diễn ra tại bảy thành phố với sự tham gia của hơn 10.000 vận động viên đến từ 203 quốc gia và vùng lãnh thổ. Vì thế,các hệ thống CNTT sẽ phải theo dõi mọi phương diện có thể ảnh hưởng đến vận động viên, từ giao thông, địa điểm thi đấu cho đến việc bảo đảm đồng phục và thiết bị đếm đúng thời gian và việc cập nhật kết quả cho giới truyền thông, khán giả…

Tuy nhiên, công việc nặng nề hơn hết của các hệ thống CNTT là việc phục vụ cho giới truyền thông và một lượng người hâm mộ khổng lồ. Hầu như mọi hoạt động đều cần đến CNTT, bao gồm việc quản lý địa điểm thi đấu, cung cấp thông tin, bảo mật mạng, e-mail, Internet, truy xuất kết quả...

Xây dựng, chạy thử và kiểm tra

Việc hoạch định CNTT cho Olympic Bắc Kinh được bắt đầu từ năm 2003, với việc lập ra một kế hoạch tổng thể. Khoảng 40 - 50% của công việc hoạch định các hệ thống được mang từ kỳ Olympic trước sang và được biến đổi để thích ứng với những điều kiện của nơi đăng cai. Năm 2004, ông Hore và nhóm của mình bắt đầu thiết kế trên bản nháp các hệ thống CNTT để xác định những yêu cầu và những gì cần thiết cho quá trình chạy thử. Một năm sau, họ tập trung xây dựng và chạy thử các hệ thống CNTT, để vào năm 2006 có thể bắt đầu giai đoạn thử nghiệm kéo dài hai năm theo yêu cầu của Ủy ban Olympic.

Trong lúc các vận động viên tập luyện miệt mài để chuẩn bị cho thế vận hội, những nhân viên CNTT cũng phải cho chạy thử các hệ thống trong khoảng 200.000 giờ. Công ty Atos Origin đã điều động khoảng 100 nhân viên chỉ làm công việc duy nhất là kiểm tra và thử nghiệm – vốn là chìa khóa cho sự thành công của các hệ thống CNTT trong quá trình diễn ra thế vận hội.

Mỗi môn thể thao đều có hệ thống CNTT của riêng nó và mỗi hệ thống đó đều được đưa vào thử nghiệm tại các sự kiện thể thao trước thềm Olympic. Ngoài ra, công việc đòi hỏi một số hệ thống phải đi vào hoạt động sớm, chẳng hạn như hệ thống quản lý chỗ ở cho vận động viên, người thân và các nhân viên Olympic phải hoạt động từ ba năm trước khi Olympic diễn ra và hệ thống quản lý tình nguyện viên phải hoạt động trước hai năm...

Quá trình thử nghiệm còn bao gồm hai cuộc diễn tập kỹ thuật với quy mô như thật – mỗi cuộc kéo dài ba ngày. Các cuộc diễn tập mô phỏng hoạt động của các hệ thống và đưa ra khoảng 700 kịch bản để kiểm tra phản ứng của các hệ thống và nhân viên kỹ thuật. Các kịch bản bao gồm những vấn đề có hay không có liên quan đến CNTT, ví dụ như một vụ xâm phạm an ninh, hỏa hoạn, ngộ độc thực phẩm...

Unix được trọng dụng, Vista ra rìa

Olympic Bắc Kinh sử dụng hai lõi cơ sở hạ tầng CNTT chính là Hệ thống Quản lý Games (GMS) – gồm hoạt động quản lý nhân sự, chỗ ở, đi lại và y tế... – và Hệ thống Truyền dẫn thông tin (IDS) – phụ trách việc tính điểm và thời gian cho các môn thi đấu. GMS được phát triển trên nền công nghệ Java và bao gồm một số thành phần nguồn mở, như máy chủ ứng dụng JBoss và máy chủ Web Apache Tomcat. Còn IDS bao gồm một trang web chính thức và các luồng thông tin cho giới truyền thông và các liên đoàn thể thao. Ngoài ra, Olympic Bắc Kinh còn sử dụng Hệ thống Thông tin Nhà bình luận (CIS), một hệ thống chạy trên Java cho phép các đài truyền hình truy xuất tức thì kết quả thi đấu cũng như tiểu sử của vận động viên thông qua màn hình cảm ứng phục vụ cho việc phát thông tin đi khắp thế giới.

Cả GMS và IDS đều do công ty Atos Origin phát triển. Trong quá trình thiết kế hai hệ thống này, Atos Origin cho biết điều quan trọng là phải duy trì “một lõi mạnh mẽ và đáng tin cậy”. Sự lựa chọn chính của họ là hệ điều hành Unix, nhưng họ cho biết sự lựa chọn này không phải là duy nhất và không thể hiện sự phủ nhận đối với những hệ điều hành khác. Ông Jeremy Hore cho biết : “Chúng tôi không dùng hệ điều hành Linux ở kỳ thế vận hội này, nhưng chúng tôi có thể dùng nó trong tương lai. Hệ điều hành Unix là sự lựa chọn tốt nhất vào thời điểm chúng tôi đưa ra quyết định (tức là cách đây 4-5 năm).”

Cũng vì lý do nói trên, hệ điều hành Windows Vista không được dùng trong các hệ thống của kỳ Olympic này, dù phiên bản Windows XP tuy cũ hơn nhưng lại xuất hiện trong nhiều máy tính, trong đó bao gồm phần lớn máy tính mà hãng Lenovo cung cấp cho Olympic Bắc Kinh. Hãng này đã cung cấp 10.000 máy tính – bao gồm các máy tính để bàn dòng KTS 660, máy tính xách tay Thinkpad T60 và E680 cùng với 4.000 máy in, 1.000 máy chủ... Chủ tịch của Lenovo, ông Yang Yuanqing, giải thích rằng quy mô và tầm quan trọng của sự kiện Olympic đòi hỏi những công nghệ phải “đủ độ chín và ổn định”, chứ đây không phải là nơi thử nghiệm những công nghệ mới.

Bên trong Trụ sở Số

Trung tâm CNTT Olympic – được gọi là Trụ sở Số (DHQ) – là một tòa nhà màu xám than nằm ở góc Tây Bắc của Công viên Olympic. Nơi đây không những là nơi đặt hệ thống phần cứng desktop dùng cho từng môn thể thao trong tổng số 28 môn thi đấu trong giai đoạn thử nghiệm, mà còn là nơi đặt một trung tâm dữ liệu có diện tích 300 m2. Đây là một trong hai trung tâm xử lý dữ liệu giống nhau dành cho Olympic Bắc Kinh. Trung tâm thứ hai được đặt tại một nơi không được tiết lộ vì lý do an ninh. Khi quá trình thử nghiệm hoàn tất vào tháng Sáu, phần lớn thiết bị tại DHQ được chuyển đến các địa điểm tranh tài.

Trong suốt quá trình diễn ra Olympic Bắc Kinh, ông Hore sẽ túc trực tại Trung tâm Hoạt động Công nghệ (TOC) bên trong DHQ. Tại khu vực đặc biệt này, 150 nhân viên, bao gồm các chuyên gia về mạng và Unix, bắt đầu làm việc 24/24 giờ mỗi ngày từ tháng Bảy để hỗ trợ cho hoạt động tại các điểm thi đấu. Hệ thống Quản lý tình huống bất ngờ của Olympic đặt tại TOC sẽ nhận biết được tất cả các rắc rối phát sinh ở điểm thi đấu, xem xét mức độ ưu tiên và gửi nhân viên đến hỗ trợ khắc phục.

IPv6 và công tác an ninh

Một công nghệ khác được đưa vào sử dụng – dù còn hạn chế – trong thời gian diễn ra Olympic Bắc Kinh là IPv6 (Giao thức Internet phiên bản 6). So với IPv4, công nghệ này hỗ trợ tốt hơn các ứng dụng như hội thảo qua video hay truyền hình có độ phân giải cao, đồng thời giúp giảm chi phí trong việc xây dựng các mạng an ninh và thiết bị giám sát.

Theo Tổ chức Quản lý Tên miền và Số hiệu mạng thế giới (ICANN), Trung Quốc có thể chuyển sang sử dụng IPv6 vào năm 2010 hay 2011. Matt Kolon, Phó Chủ tịch phụ trách hoạt động kỹ thuật của Jupiter Networks APAC, nhận định : “Việc triển khai IPv6 khắp thế giới đang được dẫn dắt bởi những gì đang diễn ra ở châu Á. Thông thường, Nhật được xem là nơi đi đầu trong việc nghiên cứu, phát triển và triển khai IPv6. Tuy nhiên, Trung Quốc đang nổi lên trong vài năm trở lại đây.”

Bằng cách sử dụng các mạng IP, kết hợp với Wi-Fi và những công nghệ không dây khác, Bắc Kinh có thể mở rộng mạng giám sát video tại thế vận hội. Việc giám sát an ninh được tiến hành ở khắp Bắc Kinh, sử dụng cơ sở hạ tầng IPv6 hiện có của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Mạng nghiên cứu và Giáo dục Trung Quốc (CERNET) đang hỗ trợ các ứng dụng không dây IPv6 được thiết kế cho Olympic 2008, bao gồm việc đặt thiết bị trên 15.000 xe taxi để truyền vị trí của xe và tình hình giao thông về một phòng kiểm soát trung tâm. Ngoài ra, IPv6 còn hỗ trợ việc điều chỉnh ánh sáng tại các điểm thi đấu và những hệ thống an ninh xung quanh Bắc Kinh.

Dù vậy, không phải ai cũng tin vào tương lai xán lạn của IPv6. Fang Meiqin, nhà tư vấn cấp cao tại công ty nghiên cứu và tư vấn công nghệ BDA tại Bắc Kinh, nhận định : “Việc phát triển IPv6 được chính phủ hỗ trợ và thúc đẩy, thay vì các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Những nhà cung cấp này cho rằng những ứng dụng mà IPv6 mang lại không khác gì mấy so với các ứng dụng của IPv4 nên không muốn đầu tư. Tuy nhiên, sự thật là IPv6 có thể mang đến những dịch vụ có chất lượng và độ bảo mật cao hơn, nhưng người sử dụng lại không thấy rõ những lợi ích này.” Ông Fang nói thêm rằng những du khách đến xem các cuộc tranh tài tại Olympic khó có thể nhận thấy được IPv6 đang được sử dụng. Ông nói : “Tôi không nghĩ là công chúng hay khách hàng bình thường sẽ nhận thấy được các điểm nổi bật của IPv6. Công nghệ này chủ yếu được sử dụng bởi nhà tổ chức và chính phủ. Tôi không nghĩ nó sẽ hỗ trợ nhiều ứng dụng mà chủ yếu dùng để truyền dữ liệu cho các ứng dụng của chính phủ”.

Công nghệ tại Olympic Bắc Kinh cao đến đâu ?

IPv6 có thể giúp các lực lượng an ninh và nhân viên Olympic khác giám sát hàng triệu khán giả, nhưng chưa chắc có thể hỗ trợ khán giả trong việc xem các môn thi đấu. Nếu xét ở khía cạnh này, thì Olympic Bắc Kinh khó có thể trở thành một “kỳ Olympic công nghệ cao” như mong muốn mà du khách từ những nước phát triển có thể tận hưởng.

Cụ thể, Trung Quốc đang hứa hẹn sẽ cung cấp các dịch vụ thế hệ thứ ba (3G) trong suốt thời gian diễn ra thế vận hội. Tuy nhiên, dịch vụ này chỉ dành cho những người có được một trong số 15.000 điện thoại mà Samsung, một trong những nhà tài trợ của Olympic 2008, tặng cho BOCOG. Hay như China Mobile, một nhà tài trợ khác, cung cấp một dịch vụ 3G nhưng chỉ sử dụng chuẩn TD-SCDMA của Trung Quốc. Như vậy, khách hàng 3G từ những nước khác, như Nhật, Hàn Quốc, Anh… sẽ không dùng được điện thoại 3G của mình tại Bắc Kinh.

Ngoài hệ điều hành Vista, sự thiếu vắng của mạng không dây cũng góp phần làm tăng những hoài nghi về một kỳ thế vận hội công nghệ cao tại Bắc Kinh. Hãng Lenovo cho biết, mạng không dây bị xem là quá rủi ro nên sẽ không được dùng trong các hệ thống cốt lõi của thế vận hội lần này. Tuy nhiên, việc thiếu vắng một số công nghệ mới có thể được bù đắp phần nào bởi những công trình có kiến trúc độc đáo tại Olympic Bắc Kinh. Nổi bật nhất chính là Sân vận động quốc gia mới có kiểu dáng khiến người ta liên tưởng đến một tổ chim (bird nest) và Trung tâm Thể thao dưới nước (water cube) quốc gia có biệt hiệu là “Khối lập phương nước” bởi thiết kế rất đẹp của nó.

(Theo Thời Báo Vi Tính Sài Gòn)