Sản xuất tăng trưởng cao trong 10 tháng đầu năm

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, 10 tháng năm 2014, sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tăng, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2014 tăng trưởng 6,9%, cao hơn mức tăng 5,4% của 10 tháng năm 2013 so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá, cao hơn mức tăng của toàn ngành, tăng 8,4% so với mức tăng 6,9% của toàn ngành.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải chủ trì Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương tháng 10 diễn ra vào chiều qua 3/11.Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải chủ trì Họp báo thường kỳ Bộ Công Thương tháng 10 diễn ra vào chiều qua 3/11.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,9%

Báo cáo của Bộ Công Thương cho biết, tháng 10 năm 2014, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,6% so với tháng 9 năm 2014 và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,9%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%, ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,8% và ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính chung 10 tháng năm 2014, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,9%, đây là mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2013 so với năm 2012 tăng 5,4%). Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,7%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%, sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,4%.

Các ngành sản xuất và phân phối điện và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng chỉ số sản xuất cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng 11,5% (năm 2013 tăng 8,6% so với năm 2012); chỉ số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4% (năm 2013 tăng 6,9% so với năm 2012) cho thấy sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tăng.

Trong ngành khai khoáng, chỉ số sản xuất có xu hướng tăng nhẹ ở các ngành khai thác than cứng và than non (tăng 0,3%), ngành khai thác dầu thô và khí đốt (tăng 0,3%), ngành khai thác đá, cát, sỏi, đất sét tăng 13,5%.

Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, một số ngành có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản (tăng 11,2%); dệt (tăng 18,7%); may trang phục (tăng 11,5%), sản xuất giày dép (tăng 20,8%), sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (tăng 13,7%), sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 13,6%)... Tuy nhiên, một số ngành có mức tăng trưởng giảm như: Sản xuất mỳ ống, mỳ sợi và sản phẩm tương tự giảm 10,6%; sản xuất thuốc lá giảm 12,4%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 6%...

Tháng 9 năm 2014, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 14,3% so với tháng 9 năm 2013. Tính chung 9 tháng đầu năm 2014 chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,1% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở nhóm hàng chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản (tăng 14,1%); sản xuất đường (tăng 15,8%); sản xuất vải dệt thoi (tăng 18%); sản xuất giày, dép (tăng 23,4%)... Những nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ là sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự (giảm 31,2%); sản xuất thuốc lá (giảm 8,8%); sản xuất hàng may sẵn (giảm 12,8%); sản xuất mô tô, xe máy (giảm 10,2%)...

Tại thời điểm ngày 1/10/2014, chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,4% so với thời điểm 1/9/2014 và tăng 10,9% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, một số ngành chỉ số tồn kho cao là: chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản (tăng 13,9%); sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (tăng 45,8%); may trang phục (trừ trang phục từ da, lông thú) (tăng 28,4%); dệt (tăng 12,3%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu (tăng 34,5%); sản xuất sắt, thép, gang (tăng 34,8%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 16,8%)...

Sản xuất kinh doanh dầu khí ổn định

Nhìn chung 10 tháng đầu năm 2014, ngành điện đã nỗ lực cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với địa phương, đầu tư xây dựng các dự án cấp điện đáp ứng tiến độ yêu cầu của nhà đầu tư, triển khai đúng tiến độ. Điện sản xuất của cả nước tháng 10 năm 2014 ước đạt 11,92 tỷ kWh, tăng 11,6% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2014, điện sản xuất ước đạt 115,67 tỷ kWh, tăng 12% so cùng kỳ. Điện thương phẩm tháng 10 ước đạt 10,83 tỷ kWh, tăng 12,1% so cùng kỳ. Công suất cực đại trong tháng 10 ước đạt 21.349MW. Tỷ lệ nguồn phát điện trong tháng 10: 53% từ thủy điện; 24% từ nhiệt điện khí; 23% từ nhiệt điện than, còn lại từ các nguồn khác.

Trong tháng 10 và 10 tháng năm 2014, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư của ngành dầu khí tiếp tục ổn định. Sản lượng một số sản phẩm chính đều tăng trưởng khá so với cùng kỳ: Dầu thô khai thác tháng 10 ước đạt 1,4 triệu tấn, đạt 99,1% so cùng kỳ, tính chung 10 tháng ước đạt 14,2 triệu tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Sản lượng khí đốt thiên nhiên tháng 10 ước đạt 0,7 tỷ m3, tăng 8,4% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng đầu năm, sản lượng khí đốt đạt 8,4 tỷ m3, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Sản lượng khí hóa lỏng (LPG) tháng 10 ước đạt 55,5 nghìn tấn, giảm 8,4% so với cùng kỳ, tính chung 10 tháng. Sản lượng khí hóa lỏng (LPG) ước đạt 536,7 nghìn tấn, giảm 7,7% so với cùng kỳ. Xăng dầu các loại tháng 10 ước đạt 564,6 nghìn tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ 2013, tính chung 10 tháng đầu năm ước đạt 4,61 triệu tấn, giảm 16,2% so với cùng kỳ.

Tháng 10, than sạch khai thác của toàn ngành ước đạt 3,8 triệu tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ 2013. Tính chung 10 tháng đầu năm, sản lượng than sạch ước đạt 32,92 triệu tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ. Theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2014, sản lượng than thành phẩm của Tập đoàn là 28,6 triệu tấn, đạt 84% kế hoạch năm, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Than tiêu thụ ước đạt 29,2 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, than xuất khẩu đạt 5 triệu tấn, giảm 37% so với cùng kỳ; than tiêu thụ nội địa đạt 24,3 triệu tấn, tăng 29% so với cùng kỳ.

Tháng 10 năm 2014, lượng sắt thép thô ước đạt 282,8 nghìn tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ; lượng thép cán ước đạt 293,4 nghìn tấn, tăng 17,9% so với cùng kỳ; lượng thép thanh, thép góc ước đạt 314,5 nghìn tấn, tăng 33,8% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, lượng sắt thép thô đạt 2512,1 nghìn tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ; thép cán đạt 2.870,6 nghìn tấn, tăng 21,6% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt 2.900,5 nghìn tấn, tăng 8,0% so với cùng kỳ.

(Thanh Huyền)