Siết chặt điều kiện cho vay lại, điều kiện bảo lãnh chính phủ

(eFinance Online) - Ngày 23/11/2017, Quốc hội thông qua Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 (Luật Quản lý nợ công năm 2017), có hiệu lực từ 1/7/2018. 
Ngày 26 - 27/7/2018, tại Hòa Bình, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại - Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng châu Á tổ chức hội nghị phổ biến Luật Quản lý nợ công và các văn bản hướng dẫn. Ảnh: Quang Minh. Ngày 26 - 27/7/2018, tại Hòa Bình, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại - Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng châu Á tổ chức hội nghị phổ biến Luật Quản lý nợ công và các văn bản hướng dẫn. Ảnh: Quang Minh.
Theo Bộ Tài chính, mục tiêu sửa Luật quản lý nợ công nhằm đảm bảo đồng bộ giữa chính sách quản lý nợ công (QLNC) với chính sách tài khóa, tiền tệ và đầu tư công. Huy động vốn đầy đủ, kịp thời cho phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; đảm bảo an toàn, bền vững nợ công. Phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong QLNC. Tiếp cận có chọn lọc thông lệ tốt của quốc tế.

Quan điểm của Bộ Tài chính khi xây dựng luật nhằm thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý nợ công an toàn, bền vững, hiệu quả. Phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bảo đảm tuân thủ Hiến pháp năm 2013 và tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan. Đẩy mạnh cải cách hành chính; đề cao tính công khai, minh bạch, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong QLNC.

Điểm mới của Luật QLNC

Luật hóa từ các quy định tại Nghị định số 79/2010/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công; phù hợp với thông lệ quốc tế. Phù hợp với yêu cầu lập các kế hoạch về tài chính, ngân sách nhà nước, đầu tư công theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công. Thống nhất cơ quan quản lý nhà nước về nợ công. Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công. Tăng cường quản lý cho vay lại và bảo lãnh Chính phủ. Thu hẹp đối tượng cho vay lại (CVL) và đối tượng được bảo lãnh Chính phủ (BLCP). Siết chặt điều kiện cho vay lại và điều kiện BLCP. Tăng cường công tác thẩm định, đánh giá và quản lý rủi ro BLCP, rủi ro CVL. Bổ sung quy định đảm bảo khả năng trả nợ công. Huy động vốn vay trong khả năng trả nợ, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công. Các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đánh giá tác động đến quy mô, khả năng trả nợ công. Quy định cụ thể quản lý và xử lý rủi ro đối với nợ công. Tăng cường công khai minh bạch, gắn trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sử dụng nợ công. Quy định rõ yêu cầu về thống kê nợ công, thông tin, báo cáo về nợ công. Xác định thời gian báo cáo và trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Gắn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng nợ công với trách nhiệm quản lý và sử dụng hiệu quả nợ công.

Một số điểm đáng chú ý của Luật

Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 gồm 10 Chương, 63 Điều.

Phạm vi nợ công (Chương I) kế thừa Luật Quản lý nợ công 2009 về phạm vi nợ công gồm: Nợ Chính phủ; nợ được Chính phủ bảo lãnh; nợ của Chính quyền địa phương.

Quy định chi tiết về phân loại nợ công (Điều 4)

Về nguyên tắc quản lý nợ công (Chương I): Kế thừa hầu hết nguyên tắc tại Điều 5 của Luật 2009. Bổ sung nguyên tắc “kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu nợ công trong giới hạn cho phép, bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô” (Khoản 2 Điều 5). Bổ sung nguyên tắc: “không chuyển khoản nợ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước” (Khoản 4 Điều 5). Bổ sung yêu cầu gắn trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan đến hoạt động vay, phân bổ, sử dụng vốn vay, trả nợ và QLNC (Khoản 5 Điều 5)

Về nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan, tổ chức, cá nhân (Chương II): Việc phân định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan trong QLNC theo nguyên tắc nhà nước thống nhất QLNC, giao một cơ quan là Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chính trong quản lý nợ công thống nhất. Tăng cường thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ. Tăng thẩm quyền của tập thể, hạn chế quy định thẩm quyền của cá nhân. Gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với trách nhiệm quản lý huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ công.

Về các công cụ quản lý nợ công (Chương III): Chỉ tiêu an toàn nợ công – Quốc hội quyết định các mức trần và ngưỡng cảnh báo của 5 chỉ tiêu an toàn nợ công. Kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm – Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Chương trình quản lý nợ công 03 năm – Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm – Chính phủ trình Quốc hội quyết định.

Về huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ của Chính phủ (Chương IV): Kế thừa các nội dung tại Luật Quản lý nợ công 2009. Chi tiết các quy định về: Phát hành công cụ nợ tại thị trường vốn trong nước (Điều 27); phát hành trái phiếu quốc tế (Điều 28); vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài (Điều 29); các khoản vay trong nước khác (Điều 30).

Về quản lý cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ (Chương V): Siết chặt điều kiện được vay lại đối với UBND cấp tỉnh. Điều kiện CVL đối với doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập được nâng cao, chi tiết và chặt chẽ hơn. Bổ sung quy định về khoản dự phòng rủi ro CVL để tạo nguồn bù đắp các rủi ro phát sinh (Khoản 2 Điều 37). Bổ sung quy định về đối tượng, phương thức, quy trình quản lý CVL vốn vay nước ngoài, trong đó bổ sung: Quy định về thẩm định CVL (Điều 38); quy định tăng cường chế tài quản lý rủi ro tín dụng CVL

Về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ (Chương VI): Bổ sung nội dung về đối tượng, điều kiện, thẩm quyền quyết định, hạn mức, thẩm định khả năng trả nợ và xử lý rủi ro

Bổ sung quy định về: Điều kiện cấp bảo lãnh Chính phủ (Điều 43); quản lý bảo lãnh Chính phủ (Điều 46); trách nhiệm của các cơ quan liên quan (Điều 48)…

Triển khai luật như thế nào?

Bộ Tài chính cho biết đã ban hành Quyết định 952/QĐ-BTC ngày 19/6/2018 về kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý nợ công. Đồng thời, Bộ Tài chính đã chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành 6 nghị định hướng dẫn và hoàn thanh 8 thông tư hướng dẫn luật và các nghị định dự kiến sẽ ban hành trong thời gian tới. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính sẽ chú trọng tuyên truyền phổ biến luật.

Kim Liên