Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia còn khiêm tốn

(eFinance Online) - Kết quả triển khai Cơ chế một cửa quốc gia còn khiêm tốn so với mục tiêu đề ra. Số lượng thủ tục triển khai còn thấp so với yêu cầu tại Quyết định số 2185/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (đạt 53/283 thủ tục). 
Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai chủ trì họp báo. Ảnh: Đức Minh.Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai chủ trì họp báo. Ảnh: Đức Minh.

Chiều ngày 19/7, Bộ Tài chính tổ chức họp báo chuyên đề về "Thúc đẩy cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại".

Một số vướng mắc

Theo phản ánh của các doanh nghiệp và cơ quan khảo sát độc lập, việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia vẫn chưa đi vào thực chất vì khi thực hiện một số thủ tục thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, bên cạnh việc gửi hồ sơ điện tử, tình trạng các doanh nghiệp được yêu cầu phải xuất trình hồ sơ, chứng từ giấy còn diễn ra khá phổ biến.  

Còn nhiều yêu cầu về thông tin chứng từ dư thừa, chồng chéo giữa các cơ quan; mức độ tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa, hài hòa hóa quy trình thủ tục còn thấp.

Năng lực chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ trong thực hiện thủ tục hành chính còn yếu. Cơ chế một cửa quốc gia đang nhằm vào mục tiêu giải quyết trực tiếp thủ tục hành chính phục vụ cho khâu thông quan mà chưa chú trọng nhiều đến việc chia sẻ thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như công tác điều hành của các cơ quan chính phủ.

Hệ thống công nghệ thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu và khối lượng công việc phải xử lý.

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, dịch vụ tài chính chưa kết nối đầy đủ với các cơ quan chính phủ để đảm bảo cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như tạo tiện ích để rút ngắn thời gian vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa tại cảng biển, sân bay quốc tế, kho bãi; thanh toán và kiểm soát chứng từ thanh toán cho các giao dịch thương mại xuyên biên giới... qua đó rút ngắn thời gian thông quan tại cửa khẩu.

Chỉ ra nguyên nhân, Bộ Tài chính cho rằng: Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật cho phép việc khai, nộp hồ sơ điện tử và sử dụng giấy phép điện tử trong thực hiện 53 thủ tục hành chính nêu trên, tuy nhiên một mặt, một số loại hồ sơ, giấy tờ theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử hoặc theo thông lệ quốc tế vẫn chưa được chấp nhận sử dụng dưới hình thức điện tử (ví dụ: vận tải đơn đường biển, phiếu tiêm chủng, hộ chiếu…), mặt khác việc tổ chức và giám sát thực hiện ở các cấp thừa hành còn chưa đồng bộ, chưa toàn diện và chưa kịp thời.

Tư duy yêu cầu cung cấp chứng từ, thông tin dư thừa vẫn còn tồn tại trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật. Thủ tục hành chính trong quản lý chuyên ngành chưa chuyển sang tự động hóa, mới chỉ dừng lại ở tin học hóa quy trình thủ công, chưa đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ chứng từ phải nộp/xuất trình một cách triệt để. Một số chứng từ được yêu cầu gửi kèm hồ sơ nhưng khi được chuyển đổi sang dạng điện tử có dung lượng rất lớn, mất nhiều thời gian chuyển đổi, nếu gửi theo hình thức điện tử gây nên quá tải cho hệ thống. Trong khi đó, hạ tầng công nghệ thông tin của các cơ quan chính phủ chưa đồng bộ nên vẫn xảy ra tình huống lỗi kỹ thuật trong quá trình truyền nhận dữ liệu giữa các bên. Khi đó, để đảm bảo không gây ách tắc cho doanh nghiệp trong thực hiện các thủ tục hành chính, các cơ quan nhà nước buộc phải áp dụng việc nộp, xuất trình chứng từ giấy.

Hầu hết các thủ tục khi được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia sẽ được thí điểm trong phạm vi hẹp trước, sau đó mới được mở rộng trên phạm vi cả nước nên trong một thời điểm, tại những địa bàn chưa triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện trên quy trình cũ, dựa trên hồ sơ giấy.

Công tác phối, kết hợp và nhận thức chậm chuyển biến ở cấp thừa hành.

Nhận thức và tính chủ động của doanh nghiệp trong việc tìm hiểu, chấp hành các quy định về giao dịch điện tử trên Cơ chế một cửa quốc gia chưa cao.

Khung pháp lý cho phép chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ với nhau để thực hiện công tác quản lý nhà nước chưa đầy đủ.

Phạm vi thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia mới hạn chế ở cơ chế khai/nộp thông tin, chứng từ và ra quyết định hành chính trực tiếp ở khâu thông quan, chưa có các dịch vụ giá trị gia tăng phục vụ việc trao đổi thông tin giữa tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng cũng như chưa chú trọng nhiều đến trao đổi thông tin điều hành giữa các cơ quan chính phủ.

Thủ tục, cơ chế đầu tư hệ thống công nghệ thông tin còn phức tạp.

Hạn chế trong công tác kiểm tra chuyên ngành

Cũng theo Bộ Tài chính, số lượng hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành còn chiếm tỷ trọng lớn (năm 2017, số tờ khai (lô hàng hóa) nhập khẩu thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành so với tổng số lô hàng nhập khẩu làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu chiếm 19,4%).

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và kiểm tra chuyên ngành nhiều, phạm vi quản lý và kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra; còn quy định chồng chéo một hàng hóa phải thực hiện cùng lúc nhiều thủ tục, chịu nhiều hình thức quản lý, kiểm tra chuyên ngành do cùng một Bộ hoặc nhiều Bộ quy định; Việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu còn chậm.

Kiểm tra chuyên ngành thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro; Chưa áp dụng việc công nhận kết quả kiểm tra; Chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu về kiểm tra chuyên ngành; Chưa xây dựng cơ sở dữ liệu phân tích thông tin, đánh giá mức độ rủi ro của doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa.

Nguồn lực (bao gồm: nhân lực, tài chính, trang thiết bị máy móc, phương tiện làm việc) thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu còn thiếu và còn yếu; chưa đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Một số Bộ đã ban hành văn bản bãi bỏ danh mục hoặc chuyển thời điểm kiểm tra mặt hàng thuộc quản lý từ giai đoạn kiểm tra trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan song vẫn quy định doanh nghiệp phải nộp chứng từ cho cơ quan hải quan để thông quan hàng hóa.

Thêm 143 thủ tục thông qua Cơ chế một cửa quốc gia

Theo Tổng cục Hải quan - Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại, năm 2018 sẽ triển khai thêm 143 thủ tục thông qua Cơ chế một cửa quốc gia đạt 78% mục tiêu về số lượng thủ tục; thí điểm trao đổi tờ khai hải quan ASEAN và chứng nhận kiểm dịch điện tử; trao đổi thông tin hải quan và chứng nhận xuất xứ với Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU).

Năm 2019, triển khai các thủ tục hành chính có số lượng giao dịch nhiều, tác động lớn tới hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức và người dân đạt ít nhất 80% mục tiêu về số lượng thủ tục.

Đến năm 2020, 100% các thủ tục hành chính thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia thu phí, lệ phí bằng phương thức điện tử. Đồng thời Việt Nam tham gia và triển khai đầy đủ Cơ chế một cửa ASEAN theo đúng cam kết; tiếp tục giữ vị trí ngang bằng với nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN về thời gian thông quan và giải phóng hàng hóa XNK, thủ tục đối với người và phương tiện xuất nhập cảnh.

Kim Liên