Nhìn lại kết quả ứng dụng CNTT giai đoạn 2011-2015

(eFinance Online) - Trong giai đoạn 2011-2015, ngành Tài chính đã có những bước phát triển nhanh và vững chắc, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để đạt được những thành tựu đó, phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của hệ thống tin học và thống kê ngành tài chính.  Đến nay, CNTT đã được ứng dụng sâu, rộng vào hầu hết các hoạt động nghiệp vụ tài chính, trở thành mạch máu không thể thiếu trong các hoạt động nghiệp vụ chủ chốt. 

Nhìn lại kết quả ứng dụng CNTT giai đoạn 2011-2015

Ứng dụng sâu, rộng

Trong giai đoạn 2011-2015  và  năm 2016, ứng dụng CNTT ngành Tài chính đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Thứ nhất, ngành Tài chính đã đẩy mạnh cung cấp thông tin, dịch vụ hành chính công trực tuyến cho các đơn vị có quan hệ với ngân sách, người dân và doanh nghiệp, gắn chặt ứng dụng CNTT trong công tác quản lý tài chính với cải cách thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, ngành Tài chính đã tập trung phát triển các ứng dụng phục vụ các nghiệp vụ cốt lõi, tập trung có quy mô toàn quốc, trong đó phải kể đến các hệ thống ứng dụng: Hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS), hệ thống kê khai thuế điện tử được triển khai và vận hành tại 63/63 cục thuế và toàn bộ các chi cục thuế trực thuộc trên toàn quốc. Hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) đã được triển khai áp dụng ổn định từ năm 2012 tại các cơ quan thuộc Bộ Tài chính, các cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện tại 63 tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc, 37 bộ, ngành, 3 sở, ban, ngành của TP. Hà Nội. Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế đã được triển khai tới các cơ quan tài chính, kho bạc, thuế, hải quan trên phạm vi toàn quốc, hệ thống kết nối thanh toán điện tử với các ngân hàng và phối hợp thu ngân sách nhà nước với các ngân hàng thương mại đã được triển khai đến toàn bộ các đơn vị kho bạc trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS), hệ thống hải quan điện tử đã được triển khai tại 100% các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc với 100% các quy trình thủ tục hải quan đã được tự động hóa, hơn 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức điện tử. Việc triển khai hệ thống VNACCS/VCIS đã rút ngắn thời gian làm thủ tục hải quan cho doanh nghiệp, giảm thiểu giấy tờ và đơn giản hóa hồ sơ hải quan, thời gian tiếp nhận và thông quan đối với hàng luồng xanh chỉ từ 1-3 giây, đối với hàng luồng vàng, thời gian xử lý và kiểm tra hồ sơ không quá 02 giờ làm việc.

Bộ Tài chính đã ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong xử lý các công việc nội bộ. Đặc biệt, bộ đã triển khai chương trình quản lý văn bản và điều hành eDocTC liên thông với hệ thống điều hành văn bản của Văn phòng Chính phủ. Việc triển khai chương trình eDocTC đã góp phần tạo nền tảng bước đầu xây dựng Chính phủ điện tử, giúp bộ cơ bản thay đổi phương thức làm việc từ xử lý văn bản giấy sang xử lý văn bản điện tử. Bên cạnh đó, toàn thể cán bộ ngành Tài chính đã sử dụng hệ thống email trong công việc và ngành cũng đã triển khai được hệ thống điện tử đa phương tiện hỗ trợ chỉ đạo điều hành của Bộ Tài chính. 

Trong giai đoạn 2011-2015, ngành Tài chính tiếp tục duy trì, nâng cấp, bổ sung, mở rộng các hạ tầng kỹ thuật đã thiết lập từ giai đoạn trước, đáp ứng yêu cầu triển khai các ứng dụng nghiệp vụ theo mô hình tập trung, có quy mô toàn quốc. Tổng cộng, hệ thống hiện gồm 2.827 điểm kết nối và 5.067 kênh truyền, 5 trung tâm dữ liệu; 100% đơn vị trung ương, tỉnh, huyện có mạng nội bộ và kết nối internet (trực tiếp hoặc gián tiếp)… Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin được quan tâm một cách toàn diện, mạnh mẽ, không để xảy ra sự cố.

Về tổ chức nguồn lực CNTT, trong giai đoạn vừa qua, ngành đã xây dựng, tổ chức được đội ngũ cán bộ CNTT thống nhất từ trung ương đến địa phương và chú trọng công tác đào tạo về kiến thức tin học cơ bản cho cán bộ nghiệp vụ. Hàng năm, Bộ Tài chính thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo kiến thức tin học cơ bản, các lớp tập huấn sử dụng các ứng dụng tác nghiệp, hướng dẫn khai thác cơ sở dữ liệu cho cán bộ nghiệp vụ đảm bảo toàn bộ cán bộ có đủ kiến thức để sử dụng thành thạo các ứng dụng tác nghiệp phục vụ công tác chuyên môn.

Ngành đã đầu tư, hỗ trợ cho các sở tài chính để nâng cao năng lực CNTT cho các sở tài chính địa phương đáp ứng tính đồng bộ, thống nhất trong toàn ngành.

Với nỗ lực triển khai, đẩy mạnh phát triển ứng dụng CNTT, 5 năm liên tiếp (2017, 2016, 2015, 2014, 2013)  Bộ Tài chính luôn dẫn đầu trong bảng xếp hạng về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam (Vietnam ICT Index) đối với khối bộ, ngành cơ quan trung ương.

Sẽ có những bước chuyển mạnh mẽ

Từ kết quả triển khai CNTT giai đoạn 2011 – 2015, ngày 24/3/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 556/2016/QĐ-BTC phê duyệt kế hoạch 5 năm về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2020. Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng, giai đoạn thực hiện các đột phá chiến lược trong công tác quản lý của Chính phủ nói chung và của ngành Tài chính nói riêng theo mục tiêu xây dựng Chính phủ đó là: “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân”. Do vậy, ứng dụng CNTT hiện đại hóa là phải thực hiện đồng thời 3 nội dung: cải cách tổ chức, hoàn thiện nghiệp vụ và hiện đại về công nghệ.

Với yêu cầu yêu cầu cải cách, hiện đại hóa, hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh, việc triển khai ứng dụng CNTT không chỉ bó hẹp trong phạm vi một hệ thống, một ngành và phải đồng bộ, phục vụ những nhiệm vụ chung của Chính phủ, các bộ, ngành khác, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Do vậy trong 5 năm tới, CNTT và thống kê ngành Tài chính phải hoàn thành kiến trúc chính phủ điện tử Bộ Tài chính theo chỉ đạo của Chính phủ; triển khai 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trở lên; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với các lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực thuế và hải quan. Đồng thời, xây dựng môi trường làm việc điện tử trong nội bộ ngành Tài chính theo hướng tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu và triển khai ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, điều hành và tạo môi trường làm việc cộng tác cao của các đơn vị trong ngành Tài chính.

Trong giai đoạn tới, các đơn vị trong ngành cũng cần tập trung xây dựng thành công cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về tài chính theo mục tiêu đến 2020 CSDL quốc gia về tài chính sẽ thực hiện vai trò quan trọng như một “Trung tâm điều hành thông minh”, biến dữ liệu về các hoạt động nghiệp vụ của ngành Tài chính (ngân sách, giá, công sản, nợ công, thuế, kho bạc, hải quan, dự tữ, chứng khoán, bảo hiểm, doanh nghiệp) thành thông tin cung cấp thông tin đầy đủ, nhanh chóng và chính xác, phục vụ công tác quản lý, điều hành của Bộ Tài chính, đồng thời thực hiện cung cấp, kết nối chia sẻ thông tin với các cơ quan Đảng, Chính phủ, bộ, ngành, UBND các cấp và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài ngành Tài chính.

Đối với lĩnh vực thuế cần tiếp tục đổi mới, nâng cao ứng dụng CNTT trong tất cả các khâu quản lý thuế, nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quản lý thuế hướng tới đáp ứng yêu cầu của Chính phủ điện tử. Xây dựng một hệ thống thông tin quản lý thuế tích hợp, tập trung, công khai minh bạch, hiệu quả, theo chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, thuận lợi cho quản lý thuế, tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hoạt động, cũng như đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả của quản lý nhà nước, góp phần đưa Việt Nam lên nhóm các nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế.

Đối với lĩnh vực hải quan xây dựng và hoàn thiện hệ thống CNTT hải quan xử lý tập trung trên nền tảng công nghệ hiện đại, có khả năng sẵn sàng cao trên cơ sở tích hợp chặt chẽ với các hệ thống thông tin của các bên liên quan; thực hiện thành công Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý hải quan theo chuẩn mực quốc tế “Mọi lúc - Mọi nơi - Mọi phương tiện”, đảm bảo rút ngắn thời gian thực hiện thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp đạt mức trung bình của ASEAN-4.

Đối với lĩnh vực kho bạc triển khai toàn diện ứng dụng CNTT trong các hoạt động nghiệp vụ của Kho bạc Nhà nước để thực hiện tốt các chức năng: quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Chính phủ; tăng cường năng lực, hiệu quả và tính công khai, minh bạch trong quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước trên cơ sở thực hiện tổng kế toán nhà nước.

Đối với lĩnh vực chứng khoán phát triển và hoàn thiện các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ nhiệm vụ quản lý và giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo hướng hiện đại, đạt các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; kết nối với sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký Chứng khoán để hình thành hệ thống thông tin hoàn chỉnh và thống nhất ngành chứng khoán.

Đối với lĩnh vực dự trữ tập trung xây dựng hệ thống thông tin cốt lõi hợp nhất, đồng bộ trong toàn hệ thống, từ cơ quan tổng cục tới các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực và các Chi cục Dự trữ Nhà nước trong toàn quốc với đầy đủ chức năng quản lý hàng hóa, quản lý chất lượng, quản lý kho tàng, quản lý kế hoạch dự trữ nhà nước; tổng hợp, trao đổi thông tin về hoạt động dự trữ quốc gia với các bộ, ngành, đia phương đáp ứng yêu cầu quản lý toàn diện về lực lượng dự trữ nhà nước.

Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an toàn thông tin giai đoạn 2016 -2020 phải bám sát khung chính sách an toàn thông tin của Bộ Tài chính, trong đó tập trung vào các nội dung: Tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn của Nhà nước về an toàn thông tin; tổ chức giám sát an toàn thông tin; đẩy mạnh công tác ứng cứu sự cố; kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của các giải pháp an toàn thông tin đã triển khai.

Xây dựng hệ thống thông tin thống kê tài chính tập trung, thống nhất, gắn liền với hệ thống thống kê kinh tế quốc dân và hệ thống thống kê tiền tệ của Nhà nước, phù hợp các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về thống kê tài chính Chính phủ, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu về phân tích, đánh giá, hoạch định và điều chỉnh chính sách trong quản lý, điều hành nền tài chính quốc gia của Bộ Tài chính, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhu cầu sử dụng thông tin thống kê tài chính của các tổ chức, cá nhân khác trong nước và quốc tế.

Đối với việc nâng cao khả năng đáp ứng hạ tầng CNTT đồng bộ, thống nhất của Bộ Tài chính với sở tài chính, để đồng bộ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tin học và Thống kê (phòng THTK) tại các sở tài chính tỉnh, thành phố và tăng cường hiệu quả công tác triển khai ứng dụng CNTT và thống kê tại các sở, đề nghị các sở tài chính tham khảo mô hình phòng THTK nâng cao khả năng đáp ứng hạ tầng kỹ thuật CNTT đồng bộ, thống nhất của Bộ Tài chính với cơ quan tài chính địa phương để lựa chọn và đề xuất mô hình phù hợp với địa phương mình báo cáo cấp thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ tổ chức triển khai. Đối với việc triển khai các phần mềm nghiệp vụ của Bộ Tài chính tại sở tài chính, giao Cục Tin học và Thống kê tài chính chủ trì, phối hợp với các sở rà soát, đánh giá và tổng hợp ý kiến và yêu cầu của các sở tài chính cập nhật, nâng cấp hệ thống các phần mềm ứng dụng, tổ chức triển khai, hỗ trợ đào tạo, tập huấn các sở tài chính quản lý, sử dụng thành thạo các ứng dụng, đảm bảo an ninh thông tin và đáp ứng yêu cầu quản lý của Bộ Tài chính và của địa phương.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống tin học thống kê tài chính trong giai đoạn tới là hết sức nặng nề. “Tất cả các đơn vị trong ngành Tài chính cần coi việc hiện đại hoá hệ thống thông tin tài chính là cốt lõi của sự nghiệp hiện đại hoá ngành tài chính và phối hợp tốt với hệ thống tin học và thống kê tài chính để thực hiện thành công các nhiệm vụ trên” – Bộ trưởng nhấn mạnh.

(Thuý Ngà)