Phát triển toàn diện thị trường bảo hiểm không thể thiếu công nghệ thông tin

(eFinance Online) - Thị trường bảo hiểm trong những năm qua đã khẳng định được vai trò "bà đỡ" của nền kinh tế với sự phát triển vững chắc và những đóng góp mà thị trưởng bảo hiểm đã mang lại. Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) sẽ tiếp tục tham mưu cấp trên, đưa ra các chính sách kịp thời nhằm phát triển toàn diện và bền vững thị trường bảo hiểm Việt Nam. Phóng viên Tạp chí Tài chính điện tử đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huyền, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2016-2020.
Phát triển toàn diện thị trường bảo hiểm không thể thiếu công nghệ thông tin

PV: 2011-2015 là giai đoạn có nhiều khó khăn, thách thức đặt ra đối với nền kinh tế trong nước và quốc tế, tác động không nhỏ đến thị trường Bảo hiểm Việt Nam. Xin ông cho biết những kết quả nổi bật mà thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua?

Giai đoạn 2011-2015 là giai đoạn có nhiều khó khăn, thách thức đặt ra với nền kinh tế quốc tế và trong nước, đã tác động không nhỏ đến thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Bối cảnh tình hình thế giới trong giai đoạn vừa qua diễn ra khá phức tạp. Kinh tế toàn cầu phục hồi chậm hơn dự báo; mức tăng trưởng giảm từ 4,1% năm 2011 xuống 3,3% trong năm 2013 và 2014. Những diễn biến bất ổn toàn cầu đã có những tác động lớn tới xu thế phát triển của thị trường bảo hiểm. Tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm toàn cầu không bền vững, chỉ đạt mức 1,1% năm 2011, phục hồi 2,5% năm 2012 và giảm xuống còn 1,4% năm 2013.

Trong nước, mặc dù kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế có bước phục hồi nhưng môi trường kinh doanh và năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tăng trưởng tín dụng đạt thấp, xử lý nợ xấu chậm, lãi suất ngân hàng giảm trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng với việc thực hiện các Hiệp định tự do hóa thương mại song phương, đa phương và thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối 2015... Về mặt xã hội, việc làm, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp. 

Trong bối cảnh đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn, thách thức. Rủi ro bảo hiểm diễn ra nhiều, thiên tai diễn ra khó lường, các vụ cháy, nổ, tai nạn giao thông... có xu hướng tăng, song với việc triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, thị trường bảo hiểm đã đạt được những kết quả tích cực.

Tính đến 31/12/2015, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 61 doanh nghiệp. Trong đó, 29 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ, 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài, 17 DNBH nhân thọ, 02 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Trong giai đoạn 2011-2015, tổng giá trị được bảo hiểm là 11,7 triệu tỷ đồng, trong đó tổng giá trị kinh tế tài sản được bảo hiểm của khu vực doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế lên tới hơn 10 triệu tỷ đồng, tổng giá trị được bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ là 1 triệu tỷ đồng; trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, sức khỏe là 700.000 tỷ đồng. Thị trường bảo hiểm đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển đặt ra tại Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011- 2015 theo Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/02/2012.

Đến hết năm 2015, tổng doanh thu toàn thị trường ước đạt 84.506 tỷ đồng, đạt khoảng 2% GDP, hoàn thành chỉ tiêu nêu tại Quyết định 193/QĐ-TTg “tổng doanh thu ngành bảo hiểm đến năm 2015 đạt 2% - 3% GDP”. Mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 16,8%/năm (từ 46.985 tỷ đồng năm 2011 lên 84.506 tỷ đồng năm 2015). Trong đó, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng bình quân 11,7%/năm, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đạt mức tăng trưởng bình quân 24,6%/năm.

Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2015, thị trường bảo hiểm đã đóng góp hơn 7.558 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước, trong đó, các DNBH nhân thọ đóng góp hơn 3.215 tỷ đồng, các DNBH phi nhân thọ đóng góp hơn 4.344 tỷ đồng, các DNBH đã góp phần ổn định kế hoạch huy động nguồn thu, hỗ trợ đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.

PV: Nhìn vào những kết quả trên, có thể thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đạt được những kết quả khá tích cực, bước đầu hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 15/02/2012. Theo ông đâu là yếu tố dẫn tới thành công này?

Đạt được các kết quả như trên là nhờ việc triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.

Trong giai đoạn 2011-2015, đã có 37 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành gồm: 06 Nghị định, 06 Quyết định của Thủ tướng, 25 Thông tư của Bộ Tài chính. Các văn bản được rà soát, sửa đổi bổ sung và ban hành mới tập trung vào các mục tiêu: Tháo gỡ vướng mắc, giúp đỡ, hỗ trợ DNBH tăng trưởng hiệu quả; đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường quản trị doanh nghiệp; cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn tài chính và đảm bảo quyền lợi của người tham gia các sản phẩm bảo hiểm. Ngoài ra, hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đã đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật phí, lệ phí, Luật sửa đổi, bổ sung các Luật về thuế, Luật đầu tư, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật...

Hai là, nâng cao tính an toàn, hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các DNBH. Tái cấu trúc các doanh nghiệp bảo hiểm: Tính đến hết năm 2015, thị trường bảo hiểm có 46/47 DNBH đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ và biên khả năng thanh toán.

Tạo lập công cụ tài chính đầu tư dài hạn cho các DNBH: Trong tổng số tiền 160.466 tỷ đồng đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH, có gần 57% đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, trong đó 82% trái phiếu Chính phủ có thời hạn trên 5 năm. Trong giai đoạn 2011-2015, các DNBH đã đấu thầu thành công 47,5% tổng khối lượng trái phiếu Chính phủ kỳ hạn trên 10 năm do Kho bạc Nhà nước phát hành. Trong năm 2015, lần đầu tiên Bộ Tài chính đã phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 20 năm và 30 năm dành riêng cho lĩnh vực bảo hiểm.

Phối hợp với các cơ quan quản lý dịch vụ tài chính khác để quản lý, giám sát các DNBH trực thuộc tập đoàn tài chính – ngân hàng: Trên cơ sở quy chế phối hợp công tác và chia sẻ thông tin giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước được ký kết ngày 29/2/2012, Bộ Tài chính đã chủ động, phối hợp có hiệu quả với Ngân hàng Nhà nước trong việc chia sẻ thông tin để xây dựng cơ chế chính sách trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, các thông tin về quản lý giám sát đối với các DNBH trực thuộc các tập đoàn tài chính- ngân hàng. Đến nay, toàn thị trường có 6 DNBH là các doanh nghiệp trực thuộc các ngân hàng thương mại. Các doanh nghiệp này đều hoạt động an toàn, hiệu quả, đáp ứng các quy định về vốn chủ sở hữu và biên khả năng thanh toán.

Xóa bỏ hiện tượng khép kín, chia cắt thị trường: Thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 09/7/2012 của Chính phủ về chủ trương thoái vốn đầu tư không thuộc ngành nghề kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty, các DNBH đã đẩy mạnh triển khai việc thoái vốn (Bảo Việt thoái vốn khỏi Bảo Long, Tập đoàn than khoáng sản thoái vốn tại Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Sài Gòn  Hà Nội, Tổng công ty Hàng Không Việt Nam thoái vốn tại Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng không; Tập đoàn Điện lực thoái vốn tại Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu); giảm tỷ lệ vốn góp của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong các DNBH chuyên ngành (Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện, Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) nhằm phòng ngừa biểu hiện khép kín, độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm.

Đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực của thị trường bảo hiểm, tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp: Trong giai đoạn 2011-2015, công tác đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực của thị trường được chú trọng. Bộ Tài chính đã ban hành quy định về tiêu chuẩn của một số vị trí chức danh trong DNBH và yêu cầu về chất lượng, trình độ đối với cán bộ DNBH. Hàng năm, Bộ Tài chính đều tổ chức các khóa đào tạo, tổ chức thi và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm. Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đang đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức đào tạo quốc tế chuyên về bảo hiểm nhằm xây dựng các khung chương trình, nội dung đào tạo chuẩn.

Về phía DNBH, các doanh nghiệp đã tuân thủ các quy định pháp luật về tiêu chuẩn của người quản trị, điều hành, ban hành các quy chế, quy trình nghiệp vụ, chuẩn hóa các khâu trong hoạt động kinh doanh, tổ chức các khóa tự đào tạo, có hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, đầu tư phát triển hệ thống công nghệ thông tin hiện đại để ứng dụng vào hoạt động kinh doanh và công tác quản trị, điều hành.

Ba là, khuyến khích, hỗ trợ các DNBH phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm. Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã khuyến khích các DNBH phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm thông qua việc chuẩn hóa điều kiện và quy trình phê chuẩn sản phẩm, tổng kết đánh giá các chương trình thí điểm (Bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu); rà soát, điều chỉnh cơ chế chính sách đối với bảo hiểm bắt buộc như: giảm mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm xe cơ giới từ 2% xuống 1% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới; hoàn thiện chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc (Thông tư 214/2013/TTLT-BTC-BCA); ban hành quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng (Nghị định 119/2015/NĐ-CP), sửa đổi quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (Thông tư 22/2016/TT-BTC)...

 Chất lượng sản phẩm được cải thiện, nhiều sản phẩm bảo hiểm mới được ra đời, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người tham gia bảo hiểm như: Bảo hiểm bảo lãnh, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm liên kết chung, bảo hiểm liên kết đơn vị, bảo hiểm vi mô, bảo hiểm thủy sản...

Bốn là, đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm. Mạng lưới hoạt động của thị trường bảo hiểm được mở rộng, tính đến 31/12/2015 các DNBH đã có tới 752 chi nhánh, 852 văn phòng đại diện trên phạm vi cả nước nhằm tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng từ khâu bán hàng, chăm sóc và thực hiện bồi thường. Hệ thống đại lý bảo hiểm với 561.773 người được đào tạo bài bản và từng bước đi vào hoạt động chuyên nghiệp hơn.

Năm là, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm thông qua việc tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra và đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp bảo hiểm; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hệ thống chỉ tiêu giám sát DNBH phù hợp với các chuẩn mực quản lý, giám sát bảo hiểm quốc tế và đặc điểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam (Thông tư 195/2014/TT-BTC); hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát (Đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, trang thông tin điện tử; xây dựng phần mềm dịch vụ công trực tuyến “Sửa đổi, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động của DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và văn phòng đại diện của DNBH nước ngoài tại Việt Nam”...). Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, theo đó, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, giám sát bảo hiểm đã được kiện toàn cả về số lượng và chất lượng thông qua các buổi đào tạo, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, ngoại ngữ...

Sáu là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm.

Về hợp tác quốc tế: Hàng năm cơ quan quản lý bảo hiểm đều tham dự diễn đàn Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN (AIRM), diễn đàn các nhà quản lý bảo hiểm quốc tế (IAIS) qua đó chia sẻ và tham vấn các chính sách về quản trị doanh nghiệp, hệ thống cảnh báo sớm. Hợp tác song phương với các tổ chức, đối tác quốc tế được đẩy mạnh đã và đang hỗ trợ cơ quan quản lý, giám sát xây dựng chính sách về bảo hiểm thiên tai (WB, ADB), bảo hiểm năng lượng nguyên tử (Pool bảo hiểm năng lượng nguyên tử Nhật Bản), phát triển hệ thống công nghệ thông tin (WB), đào tạo tăng cường năng lực (FSS Hàn Quốc, FSA Nhật Bản, KIDI Hàn Quốc...; triển khai thực hiện Biên bản ghi nhớ giữa 3 nước Việt Nam, Thái Lan, Campuchia thực hiện Nghị định thư số 5 của ASEAN về chương trình bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới...

Về hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập kinh tế (WTO, AEC 2015) đã tạo điều kiện hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng phù hợp với chuẩn mực quốc tế về giám sát bảo hiểm do Hiệp hội các cơ quan quản lý bảo hiểm quốc tế (IAIS) ban hành. Cơ quan quản lý bảo hiểm tích cực chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định đa phương, song phương với các đối tác kinh tế quan trọng, tiến tới mở cửa thị trường bảo hiểm sâu rộng phù hợp với lợi ích quốc gia: ASEAN; ASEAN + (ASEAN - Nhật Bản; ASEAN- Ấn Độ); WTO; TPP; Việt Nam - Hàn Quốc; Việt Nam - EU; Việt Nam - Hoa Kỳ; Việt Nam - Singapore. Việc mở cửa thị trường bảo hiểm giúp các DNBH Việt Nam nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, chuyên nghiệp hóa kênh phân phối, nâng cao năng lực canh tranh, tiếp cận công nghệ hiện đại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

PV: Xin ông cho biết mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2016-2020 và để có thể phát huy hết tiềm năng, duy trì đà tăng trưởng hoàn thành mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm đến hết năm 2020 theo Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đã đề ra, cần tiến hành các giải pháp gì?

Định hướng Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2016-2020, phát triển các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm có năng lực tài chính vững mạnh, năng lực quản trị điều hành đạt chuẩn mực quốc tế, hoạt động hiệu quả, đảm bảo khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

Đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm. Nhà nước có chính sách phù hợp khuyến khích các doanh nghiệp phát triển sản phẩm bảo hiểm, đảm bảo đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của mọi lĩnh vực kinh tế và tầng lớp dân cư.

Chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm. Nhà nước có chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển từng loại hình kênh phân phối bảo hiểm, tạo cầu nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng.   

Nâng cao năng lực quản lý, giám sát nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại hóa. Nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực, phát huy mạnh mẽ vai trò thành viên của Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm Đông Nam Á và Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý bảo hiểm.

Để có thể phát huy hết tiềm năng, duy trì đà tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2020, hoàn thành mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2020 theo Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đã đề ra, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp để phát triển thị trường bảo hiểm, cụ thể: Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp luật về bảo hiểm và các quy định pháp luật có liên quan như: Trình Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm vào năm 2020, trên cơ sở đó rà soát, ban hành đầy đủ, đồng bộ các văn bản hướng dẫn có liên quan. Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.

Phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Cụ thể, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công an xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho DNBH tiếp cận hiện trường xảy ra tổn thất (cháy, nổ) và tiếp cận, sao chép hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tham gia bảo hiểm để hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác phòng, chống gian lận trong kinh doanh bảo hiểm. 

Nghiên cứu các chính sách liên quan đến bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm năng lượng nguyên tử, bảo hiểm tài sản công, bảo hiểm vi mô, từ đó đánh giá khả năng thực thi và kế hoạch triển khai.

Thứ hai, nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các DNBH: Ban hành các quy định về quản trị rủi ro, quản trị tài chính doanh nghiệp tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các yêu cầu đối với hệ thống công nghệ thông tin (CNTT), đảm bảo hệ thống công nghệ thông tin của doanh nghiệp phải kết nối được với các hệ thống chung của thị trường và cơ quan quản lý, giám sát, đáp ứng được các yêu cầu quản trị doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động và yêu cầu giám sát của cơ quan quản lý. Xây dựng cơ sở dữ liệu chung của toàn thị trường phục vụ cho việc định phí bảo hiểm, tạo mặt bằng về mức phí sàn, đảm bảo công khai, minh bạch, góp phần lành mạnh hóa môi trường cạnh tranh trên thị trường.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm, triển khai hệ thống phần mềm quản lý, giám sát trực tuyến nhằm rút ngắn thời gian và thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp, tạo dựng môi trường thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển theo đúng tinh thần của Nghị quyết 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về các giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức bộ phận chuyên trách hỗ trợ phòng chống gian lận bảo hiểm, hỗ trợ tư vấn pháp lý, trọng tài... đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý, giám sát, hỗ trợ thị trường phát triển an toàn, ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, hỗ trợ doanh nghiệp phòng chống gian lận trong kinh doanh bảo hiểm.

Vậy ông đánh giá như thế nào về sự cần thiết của CNTT  trong sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhất là khi hiện nay thị trường bảo hiểm Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường kinh tế thế giới?

Như đã nêu ở phần trên, với thực tế và quy mô phát triển của thị trường bảo hiểm, việc xây dựng hệ thống CNTT ứng dụng chung cho toàn thị trường, đáp ứng nhu cầu quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hết sức cần thiết.

Trong Chiến lược Phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2016-2020, giải pháp ứng dụng CNTT là một trong số các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm: “Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, hệ thống CNTT đáp ứng yêu cầu hoạt động quản lý, giám sát. Xây dựng và triển khai hệ thống CNTT kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, bao gồm cả các phần mềm quản lý, giám sát chuyên nghiệp và website của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê chung cho thị trường bảo hiểm, trong đó tập trung vào các sản phẩm bảo hiểm mang tính cộng đồng như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới…”.

Hiện nay, việc ứng dụng CNTT của Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm trong công tác thống kê, phân tích dữ liệu thị trường bảo hiểm còn thủ công, công tác phân tích dự báo, quản lý giám sát và hoạch định chính sách chưa có công cụ hỗ trợ. Việc ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp bảo hiểm còn chưa đồng nhất. Các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đã ứng dụng CNTT trong hoạt động kinh doanh và công tác quản trị doanh nghiệp, trong khi đó hệ thống CNTT của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước chưa đáp ứng yêu cầu.

Ngoài ra, hiện nay chưa có hệ thống CNTT kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường. Kênh giao tiếp thông tin hiện nay chủ yếu được thực hiện trên các văn bản giấy dẫn đến mất nhiều thời gian và gây nhiều khó khăn trong công tác phân tích, đánh giá thị trường.

Dự kiến trong giai đoạn 2016-2020, hệ thống ứng dụng CNTT chung cho toàn thị trường bảo hiểm sẽ đạt các mục tiêu chủ yếu sau: Xây dựng và triển khai hệ thống CNTT kết nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước về dựng kho dữ liệu bảo hiểm tập trung có khả năng lưu giữ số liệu lịch sử, cập nhật kịp kinh doanh bảo hiểm (Bộ Tài chính) với các doanh nghiệp bảo hiểm và các tổ chức liên quan.  Xây thời, toàn diện phục vụ cho việc phân tích, dự báo, tính phí bảo hiểm. Xây dựng mô hình phân tích, dự báo các chỉ tiêu quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Hệ thống ứng dụng CNTT cần phát triển trên nền tảng cơ sở dữ liệu hiện đại, sử dụng lâu dài, có khả năng mở rộng, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác cho cơ quan quản lý trong việc quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm, giúp cho DNBH trong công tác quản trị doanh nghiệp và giúp cho người dân tiếp cận được với các sản phẩm bảo hiểm nhanh nhất.

Theo đó, về phía phía cơ quan quản lý nhà nước: Hệ thống cung cấp dữ liệu đầu vào cho việc khai thác và phân tích dữ liệu chuyên sâu, phân tích dữ liệu theo chủ đề và công tác thống kê, dự báo; phục vụ cho công tác quản lý, giám sát từ xa, tại chỗ của Cục.

Về phía các DNBH, hệ thống CNTT hỗ trợ trong việc tương tác với cơ quan quản lý trong việc gửi và nhận thông tin báo cáo theo quy định, thụ hưởng các kết quả phân tích, thống kê dữ liệu chung của thị trường, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quản trị doanh nghiệp, quản lý điều hành, giảm thiểu việc trục lợi bảo hiểm, tăng khả năng cạnh tranh...

Về phía người dân, hệ thống CNTT phục vụ người dân tiếp cận dịch vụ bảo hiểm của DNBH một cách đơn giản, thuận tiện, lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp nhanh chóng (như tra cứu các thông tin về sản phẩm bảo hiểm để lựa chọn các quy tắc, điều khoản bảo hiểm, mức phí bảo hiểm phù hợp với nhu cầu...).

Xin cảm ơn ông!

(T.H - thực hiện)