Yêu cầu đặt ra cho công nghệ thông tin trong phát triển thị trường bảo hiểm

(eFinance Online) -Trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011-2020 (Quyết định 193/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội và tài chính quốc gia trong từng thời kỳ; tăng cường tính an toàn, bền vững và hiệu quả của thị trường và đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. 
Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Với việc triển khai thực hiện các giải pháp của Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường bảo hiểm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, vừa là công cụ phòng vệ rủi ro tài chính cho nhà đầu tư, vừa là kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế, thực hiện các chương trình mục tiêu cấp bách của Chính phủ. Trong giai đoạn 2011-2015, mặc dù kinh tế thế giới và trong nước vẫn còn nhiều biến động, thị trường bảo hiểm vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được đã được xây dựng tương đối đầy đủ; các chỉ tiêu về tổng doanh thu, quy mô các quỹ dự phòng nghiệp vụ và tổng nguồn vốn huy động được đảm bảo, hỗ trợ cân đối ngân sách nhà nước.

Mặc dù vậy, thị trường bảo hiểm còn một số hạn chế, trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là do việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong kinh doanh bảo hiểm và quản lý, giám sát bảo hiểm chưa được triển khai rộng rãi. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải tăng cường ứng dụng CNTT trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm trong giai đoạn tiếp theo (2016-2020).

Được gì sau 5 năm thực hiện Chiến lược? 

Sau 5 năm tiến hành đồng bộ các giải pháp theo Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020, thị trường bảo hiểm về cơ bản đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển đặt ra tại chiến lược.

Cụ thể: Về cơ chế chính sách: Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được đã được xây dựng tương đối đầy đủ, tạo môi trường, nền tảng pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của thị trường. Trong giai đoạn 2011-2015, đã có 37 văn bản quy phạm pháp luật (06 Nghị định, 06 Quyết định của Thủ tướng, 25 Thông tư của Bộ Tài chính) được rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành tập trung vào các mục tiêu: tháo gỡ vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) tăng trưởng hiệu quả; đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường quản trị doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm được đồng bộ hóa với các quy định pháp luật khác có liên quan như pháp luật về thuế, luật doanh nghiệp, luật dân sự...

Về các chỉ tiêu cơ bản của thị trường bảo hiểm: Các chỉ tiêu cơ bản của thị trường bảo hiểm như tổng doanh thu thị trường, quy mô quỹ dự phòng nghiệp vụ, tổng nguồn vốn huy động cho nền kinh tế, mức độ đóng góp vào ngân sách nhà nước đều hoàn thành các chỉ tiêu nêu tại Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 15/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

Tổng doanh thu ngành bảo hiểm ước đạt 84.375 tỷ đồng vào cuối năm 2015 (tương đương 2% GDP). Mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 16,7%/năm, trong đó, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng bình quân 13,42%/năm, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đạt mức tăng trưởng bình quân 22,9%/năm.

Tổng dự phòng nghiệp vụ nhằm sẵn sàng đáp ứng nghĩa vụ chi trả bồi thường cho khách hàng của các DNBH ước đạt 130.391 tỷ đồng (tính đến cuối năm 2015), tăng 2,36 lần so với năm 2010, đảm bảo mục tiêu đóng góp vào ổn định kinh tế-xã hội, đáp ứng bồi thường và chi trả quyền lợi khách hàng kịp thời khi xảy ra rủi ro hoặc những nhiệm vụ mang tính chất cấp bách, đột xuất của Chính phủ.

Tổng nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các DNBH ước đạt 157.266 tỷ đồng  (tính đến hết năm 2015), tăng 1,99 lần so với năm 2010. Trong đó, tổng số tiền đầu tư của các DNBH vào trái phiếu Chính phủ đạt gần 89.000 tỷ đồng với 82% trái phiếu Chính phủ có thời hạn trên 5 năm, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư dài hạn ổn định cho nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Thị trường bảo hiểm đã đóng góp hơn 4.975 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2011-2015, trong đó, các DNBH nhân thọ đóng góp hơn 2.572 tỷ đồng, các DNBH phi nhân thọ đóng góp hơn 2.403 tỷ đồng, góp phần ổn định kế hoạch huy động nguồn thu, hỗ trợ đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.

Về doanh nghiệp bảo hiểm: Tính đến cuối năm 2015, toàn thị trường có 61 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trong đó có 29 DNBH phi nhân thọ, 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoái, 17 DNBH nhân thọ, 02 DNBH tái bảo hiểm và 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm), tổng số chi nhánh, văn phòng đại diện của DNBH trên cả nước khoảng 3.044 đơn vị. Các DNBH ngày càng nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị, đảm bảo khả năng cạnh tranh. Đối với năng lực tài chính, tổng tài sản của các DNBH tăng khá nhanh trong 5 năm qua, tính đến cuối năm 2015 đạt 200.023 tỷ đồng, tăng gấp gần 2 lần năm 2011. Đối với năng lực quản trị, thực hiện Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 195/2014/TT-BTC ngày 17/12/2014 hướng dẫn đánh giá, xếp loại DNBH. Trên cơ sở đánh giá, có 46/47 DNBH (không bao gồm các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tái bảo hiểm) đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ và đảm bảo khả năng thanh toán.

Cụ thể có 12 DNBH phi nhân thọ và 17 DNBH nhân thọ thuộc nhóm 1, 17 DNBH phi nhân thọ thuộc nhóm 2, 01 DNBH phi nhân thọ thuộc nhóm 3 và không có DNBH nào thuộc nhóm 4.

Hầu hết các DNBH đã xây dựng đầy đủ các quy trình nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, từng bước chuẩn hoá các khâu trong hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, nhằm xóa bỏ hiện tượng khép kín, chia cắt thị trường bảo hiểm, các DNBH tiếp tục đẩy mạnh triển khai việc thoái vốn, giảm tỷ lệ vốn góp của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước trong các DNBH chuyên ngành theo Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 09/7/2012 của Chính phủ.

Theo đó, một số Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước trong giai đoạn 2011-2015 đã thực hiện thoái toàn bộ vốn góp tại các DNBH. Trong đó, Tập đoàn Bảo Việt thoái vốn khỏi Bảo Long; Tập đoàn than – khoáng sản đã hoàn thành thoái toàn bộ vốn đầu tư (19,8%) tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội; Tổng công ty Hàng Không Việt Nam thoái vốn tại Công ty cổ phần bảo hiểm Hàng không; Tập đoàn Điện lực đã thoái vốn (22,5%) tại Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu; Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước SCIC thoái toàn bộ vốn nhà nước tại Công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh (50%) và Công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (40,36%)...

 Về sản phẩm bảo hiểm và kênh phân phối: Sản phẩm bảo hiểm được các doanh nghiệp phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức, cá nhân. Chất lượng và tính chuyên nghiệp của kênh phân phối ngày càng được chú trọng, tạo cầu nối hiệu quả giữa DNBH và khách hàng. Tính đến hết 2015, toàn thị trường có 1.189 sản phẩm bảo hiểm (837 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 352 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ) và 561.733 đại lý bảo hiểm.

Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm vi mô (hướng dẫn triển khai thí điểm đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực tài chính cộng đồng thuộc hội Khuyến học Việt Nam), bổ sung bảo hiểm bảo lãnh thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Các sản phẩm bảo hiểm mới như bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm sức khỏe cũng đã được triển khai, ngày càng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh kênh phân phối qua đại lý truyền thống, các kênh phân phối mới như bán bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance), bán hàng qua điện thoại, qua hệ thống bưu điện... đã được các doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển.

Về hợp tác kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế: Công tác hợp tác kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng được đẩy mạnh, đảm bảo thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế, từng bước thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển trong khu vực. Trong giai đoạn 2011-2015, việc tham dự các diễn đàn, hợp tác song phương với các tổ chức quốc tế được đẩy mạnh nhằm chia sẻ, tham vẫn, hỗ trợ xây dựng các chính sách về quản trị doanh nghiệp, hệ thống cảnh báo sớm (AIRM, IAIS), chính sách về bảo hiểm thiên tai (WB, ADB), bảo hiểm năng lượng nguyên tử (Pool bảo hiểm năng lượng nguyên tử Nhật Bản), đào tạo tăng cường năng lực (FSS Hàn Quốc, FSA Nhật Bản, KIDI Hàn Quốc)...

Ngoài ra, việc tích cực chủ động tham gia và đám phán các Hiệp định đa phương, song phương với các đối tác kinh tế quan trọng, tiến tới mở cửa thị trường bảo hiểm sâu rộng phù hợp với lợi ích quốc gia: ASEAN; ASEAN + (ASEAN - Nhật Bản; ASEAN- Ấn Độ); WTO; TPP; Việt Nam - Hàn Quốc; Việt Nam - EU; Việt Nam - Hoa Kỳ; Việt Nam – Singapore đã góp phần giúp các DNBH Việt Nam nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, chuyên nghiệp hóa kênh phân phối, nâng cao năng lực canh tranh, tiếp cận công nghệ hiện đại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Kết quả sau 5 năm tích cực tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế thì Việt Nam đã tuân thủ hoàn toàn 13/26 các nguyên tắc quản lý, giám sát bảo hiểm (đạt 50%, hoàn thành chỉ tiêu nêu tại Quyết định 193/QĐ-TTg), theo báo cáo tự đánh giá với Diễn đàn các nhà quản lý bảo hiểm Đông Nam Á (AIRM) .

Tuy đạt được nhiều kết quả khả quan, nhưng trong thời gian qua thị trường bảo hiểm vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Số lượng sản phẩm bảo hiểm tuy nhiều song đa số sản phẩm được thiết kế cố định, trọn gói, khó điều chỉnh, chia nhỏ theo nhu cầu đa dạng của bên mua bảo hiểm; việc khai thác bảo hiểm còn chưa đồng đều, các DNBH chủ yếu tập trung khai thác tại các thành phố lớn và các đối tượng có thu nhập cao; năng lực quản trị điều hành, hiệu quả hoạt động của một số doanh nghiệp phi nhân thọ chưa cao; vẫn còn tình trạng gian lận trong kinh doanh bảo hiểm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của DNBH và người tham gia bảo hiểm.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của hạn chế trên là do việc ứng dụng CNTT trong kinh doanh bảo hiểm và quản lý, giám sát bảo hiểm còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải tăng cường ứng dụng CNTT trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2016-2020.

Định hướng CNTT cho ngành bảo hiểm

Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã xác định ứng dụng CNTT là một trong những giải pháp cơ bản phát triển thị trường bảo hiểm: “Xây dựng hệ thống phân tích tự động hỗ trợ công tác phân tích, đánh giá và cảnh báo sớm nguy cơ của doanh nghiệp bảo hiểm. Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu hoạt động quản lý, giám sát. Xây dựng và triển khai hệ thống công nghệ thông tin kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, bao gồm các phần mềm quản lý, giám sát chuyên nghiệp và website của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm”. Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011-2020, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 556/QĐ-BTC ngày 24/3/2016 về việc Kế hoạch 5 năm về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2020, trong đó có dự án “Hệ thống thông tin quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm”.

Theo đó, hệ thống ứng dụng CNTT cho toàn thị trường sẽ đáp ứng mục tiêu xây dựng cho thị trường bảo hiểm một kho dữ liệu chung, sử dụng lâu dài, có khả năng phát triển, mở rộng, cung cấp thông tin đủ, kịp thời và chính xác cho cơ quan quan quản lý trong việc quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các DNBH trong việc quản trị doanh nghiệp và khách hàng mua bảo hiểm trong việc tiếp cận các sản phẩm bảo hiểm nhanh nhất. Với mục tiêu trên, trong giai đoạn 2016-2020, yêu cầu đặt ra đối với ứng dụng CNTT trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đó là:

- Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, cần triển khai rộng rãi và đồng nhất việc ứng dụng CNTT trong kinh doanh bảo hiểm:

Trong khi vẫn chưa có nhiều DNBH triển khai ứng dụng CNTT, thì việc áp dụng CNTT tại các DNBH đó còn chưa được đồng nhất, mỗi doanh nghiệp sử dụng một hệ thống khác nhau không có sự liên thông, dẫn đến phân tán dữ liệu, gây khó khăn cho công tác quản lý, chia sẻ dữ liệu và chia sẻ thông tin. Chỉ có một số DNBH chủ động ứng dụng CNTT trong kinh doanh bảo hiểm, còn phần lớn các doanh nghiệp còn lại hệ thống CNTT  không đáp ứng yêu cầu.

Đơn cử như Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI, đã đầu tư nâng cấp phần mềm, công nghệ quản lý nhằm triển khai bán bảo hiểm trực tuyến và thành lập trung tâm duyệt giá bồi thường. Doanh thu bán bảo hiểm trực tuyến của PTI trong thời gian triển khai 1 năm đã vươn lên dẫn đầu thị trường, thời gian duyệt giá bồi thường rút ngắn xuống còn 1 ngày, do đó, đã giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, minh bạch hóa quá trình giải quyết khiếu nại của khách hàng.

Ngay cả Công ty bảo hiểm nhân thọ AIA Việt Nam triển khai ứng dụng iPoS, với công nghệ này toàn bộ quy trình tư vấn bảo hiểm, ghi nhận thông tin khách hàng, thiết lập bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm, hoàn tất và nộp hồ sơ yêu cầu bảo hiểm đều được thực hiện trên thiết bị di động, do đó khách hàng cũng chỉ mất 1 ngày là nhận được hợp đồng, giúp cho việc kinh doanh bảo hiểm được nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện và minh bạch.

Hay Công ty bảo hiểm Chubb Life với ứng dụng eSMART, với đầy đủ hệ thống dữ liệu của công ty, hỗ trợ khách hàng sử dụng thẻ ngân hàng, với ứng dụng này nhân viên kinh doanh có thể tư vấn tài chính cho khách hàng một cách thuận tiện, nhanh chóng, các hợp đồng bảo hiểm có thể được hoàn thành trong vòng vài tiếng. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong kinh doanh bảo hiểm mới chỉ được triển khai ở khối DNBH nhân thọ, do khối này có tới 16/17 doanh nghiệp là doanh nghiệp nước ngoài, còn khối DNBH phi nhân thọ chưa được triển khai rộng rãi do khối này đa số là doanh nghiệp trong nước, 7/29 DNBH là doanh nghiệp nước ngoài.

Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, doanh thu bảo hiểm bán trực tuyến trong vài năm gần đây tăng tới 300%, kênh này được khách hàng lựa chọn bởi dễ dàng so sánh giữa các sản phầm bảo hiểm cùng chủng loại để chọn ra sản phẩm bảo hiểm tốt và phù hợp với nhu cầu của họ. Hơn nữa, trong thời gian gần đây, với sự ra đời của các công nghệ mới như xu hướng internet kết nối vạn vật (IoTs), hoặc công nghệ điện toán đám mây có thể thay đổi nhu cầu, thói quen của người tiêu dùng nói chung và khách hàng mua bảo hiểm nói riêng.

Theo nghiên cứu của SMA Reseach, 74% lãnh đạo của các DNBH cho rằng IoTs sẽ thay đổi cơ bản chính sách bảo hiểm  trong 5 năm tới, do đó các DNBH này có kế hoạch đầu tư phát triển và thực hiện các chiến lược về IoTs trong thời gian tới.

- Về phía cơ quan quản lý, cần xây dựng hệ thống thông tin kết nối giữa cơ quan quản lý và DNBH: Trên thực tế,  kênh kết nối chủ yếu hiện nay giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu được thực hiện qua các văn bản, chưa có hệ thống thông tin kết nối trực tiếp. Với số lượng gần 1.200 sản phẩm bảo hiểm, số lượng hợp đồng bảo hiểm mà ngành bảo hiểm hiện đang khai khác và quản lý lên tới hàng chục triệu hợp đồng bảo hiểm, cần xây dựng một hệ thống CNTT đồng nhất, hiện đại nhằm đảm bảo cho công tác quản lý, giám sát được triển khai toàn diện. Đây sẽ là một trong những nhân tố hỗ trợ thực hiện có hiệu quả và đạt được các mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm trong giai đoạn 2016-2020.

TS. Nguyễn Viết Lợi Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính,Bộ Tài Chính