Ngoại trừ Mỹ và EU, tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển còn yếu

Kinh tế thế giới nhiều khó khăn và bất định trong năm 2015, WB hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng 2007-2008. Ngoại trừ Mỹ và EU, tăng trưởng của các nền kinh tế phát triển còn yếu, khối BRICS nhiều rủi ro với các bất cân đối vĩ mô ngày một lớn. Giá hàng hóa thế giới giảm sâu, đặc biệt là giá nhiên liệu và thực phẩm.

Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Trước những khó khăn và diễn biến bất định của thị trường tài chính – tiền tệ và kinh tế trong năm 2015, các tổ chức quốc tế đã lần lượt hạ dự báo kinh tế toàn cầu trong những dự báo mới nhất của mình. IMF hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống 3,1%,  so với mức dự báo 3,4% hồi tháng 7. WB cũng hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu từ 2,9% còn 2,5%. Đây là mức dự báo tăng trưởng thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Tăng trưởng thương mại thế giới dự báo ở mức 2,8% năm 2015, thấp hơn dự báo trước đó là 3,3%.

Tăng trưởng của các quốc gia phát triển

Mỹ, tăng trưởng chậm lại trong quý 3. GDP quý 3 chỉ tăng 1,5% (so với mức  3,9% trong quý 2). Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đón nhận những tín hiệu khả quan khi tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 5% trong tháng 9 (từ 5,1% trong tháng 8), tiêu dùng nội địa tăng 3,2%, doanh số bán hàng tăng 3%, niềm tin tiêu dùng duy trì ở mức trên 90 điểm, là mức cao trong 5 năm qua.

Châu Âu, tăng trưởng tiếp tục giảm, tăng trưởng quý 3 giảm xuống 0,3%, là tháng thứ 2 liên tiếp giảm tăng trưởng. Rủi ro giảm phát quay trở lại khi chỉ số giá tiêu dùng ở Eurozone giảm 0,1% trong tháng 9. Do những tín hiệu phục hồi của Châu Âu chưa đủ mạnh mẽ cùng với những rủi ro đi kèm như giá tiêu dùng giảm, đồng Euro mạnh nên Ngân hàng trung ương Châu Âu quyết định giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn cơ bản ở mức thấp kỷ lục 0,05%/năm.

Nhật Bản, tiếp tục tăng trưởng âm. Quý 3 là quý thứ 2 liên tiếp tăng trưởng âm, đều ở mức -0,2%.  Chỉ số lạm phát tiếp tục giảm tiếp 0,1% trong tháng 9, chi tiêu của các hộ gia đình bất ngờ giảm cho thấy tâm lý thắt chặt chi tiêu của người dân, doanh số bán lẻ lao dốc, nhập khẩu suy yếu trong khi xuất khẩu trì trệ. Nền kinh tế cũng có một vài tín hiệu tích cực trong tháng 9 khi sản lượng công nghiệp tăng trưởng 1,1% so với tháng trước; các đơn hàng máy móc cốt lõi tăng 7,5% sau khi sụt giảm 5,7% trong tháng 8. Tuy nhiên, chừng đó là chưa đủ để bù đắp sự suy giảm của tháng 7 và 8. Trước tình hình nền kinh tế yếu, Ngân hàng Trung ương sẽ giữ nguyên chương trình nới lỏng định lượng có quy mô kỷ lục 80.000 tỷ yen (665 tỷ USD) mỗi năm.

Tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển

Các nền kinh tế mới nổi đang phải đối mặt với khó khăn khi dòng vốn thực tế đổ vào các nền kinh tế mới nổi trong năm nay lần đầu tiên đã giảm kể từ năm 1988. Số vốn rút khỏi 30 nền kinh tế mới nổi trong năm nay dự kiến sẽ là 540 tỷ USD, so với số vốn 

rót vào những nền kinh tế này chỉ là 32 tỷ USD trong năm ngoái. Tình trạng thoái vốn khỏi các nền kinh tế mới nổi sẽ tiếp tục trong năm 2016, với mức rút vốn khoảng 306 tỷ USD do triển vọng tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế mới nổi giảm sút, cũng như khả năng FED sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trung Quốc, tăng trưởng và xuất khẩu suy giảm; tình trạng dư thừa cung, cầu nội địa yếu là một thách thức lớn. Chỉ số CPI sụt giảm liên tiếp 3 tháng gần đây do giảm giá lương thực và tình trạng thừa cung tại nước này. Chỉ số giá sản xuất (PPI) đứng yên tại mốc -5,9% trong suốt 3 tháng qua, và tính chung 10 tháng đầu năm chỉ số này giảm 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đánh dấu sự sụt giảm liên tiếp trong 44 tháng qua do cầu nội địa yếu. Cũng trong tháng 10, xuất khẩu giảm 3,6%; nhập khẩu giảm 16%. Chỉ số PMI dưới mức 50 điểm trong 1 năm qua (ngoại trừ tháng 2/2015). Ngày 2/11/2015, Trung Quốc đã bất ngờ nâng tỷ giá tham chiếu đồng NDT so với USD lên 0,54%, động thái này được cho là nhằm tăng sức cạnh tranh về giá cho hàng xuất khẩu, vực dậy hoạt động sản xuất yếu kém và tăng trưởng trì trệ.

Các nước BRICs khác: Hàn Quốc, hạ dự báo tăng trưởng kinh tế nước này năm nay xuống còn 3,2% giảm so với mức 3,3% trước đó do nhu cầu trong nước còn yếu và các yếu tố bên ngoài đang bất lợi; trước tình hình đó, BoK quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục 1,5% trong bối cảnh xuất khẩu từ đầu năm đến nay sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái.

Nga, dự báo tăng trưởng GDP năm 2015 chỉ ở mức 0,7%, song chỉ đạt mức tăng trưởng dương từ quý 2, sản xuất công nghiệp tăng 0,6%. Bộ Phát triển kinh tế Nga cũng chuẩn bị một kịch bản bi quan cho trường hợp giá dầu xuống đến mức 40 USD/thùng, khi đó lạm phát sẽ ở mức 8,3%, GDP sẽ suy giảm ở mức âm (-1%).

Mexico, ngân hàng trung ương tiếp tục giữ lãi suất chính ở mức 3%, trì hoãn đợt tăng cho đến tháng 12 sau khi FED giữ lãi suất không đổi.

Indonesia tăng trưởng ở mức thấp nhấp trong 6 năm qua; khi tăng trưởng trong quý 1 và quý 2 năm nay lần lượt là 4,71% và 4,67%. Trước tình hình đó, Chính phủ Indonesia đã triển khai gói kích thích kinh tế thứ ba nhằm thu hút đầu tư và phục hồi nền kinh tế.

Giá hàng hóa

Giá hàng hóa thế giới vẫn đang trong xu thế giảm sâu so với năm 2014, chỉ số giá lương thực trong tháng 9 đạt 156,3 điểm (gần mức thấp nhất trong 6 năm qua); tổng giá trị nhập khẩu lương thực toàn cầu giảm còn 1.090 tỷ USD trong năm 2015 (thấp nhất trong vòng 5 năm qua). Giá các mặt hàng chủ chốt giảm mạnh do lượng tồn trữ quá nhiều cùng với việc giá dầu thấp và đồng USD mạnh. Theo đó, so với cùng kỳ 2014, giá các loại hàng hóa chủ chốt trong tháng 10/2015 như: năng lượng giảm 43,81%;  nông sản giảm 11,32%; lương thực giảm 12,93%; nguyên liệu thô giảm 5,72%; kim loại giảm 24,7%.

Giá dầu thô tiếp tục duy trì ở mức thấp. Giá dầu bình quân tháng 11 ở mức 41,94 USD giảm 10% so với tháng trước và giá dầu trong năm 2015 giảm 17% so với năm 2014 do tình trạng dư cung trong khi cầu về dầu chưa phục hồi bởi các nên kinh tế chủ chốt tăng trưởng chậm. Nhiều dự báo cho rằng giá dầu thấp sẽ còn kéo dài hơn và có thể cân bằng hơn vào năm sau khi sản lượng các mỏ dầu có chi phí cao giảm dần.

(PV)