Từ thuế Tobin đến thuế giao dịch tài chính ở châu Âu

Ra đời trong bối cảnh Chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ, thuế Tobin thu hút sự chú ý của thế giới khi xảy ra khủng hoảng tài chính tại châu Á giai đoạn 1997 - 1998, đã trở lại mang tính thời sự từ khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và có thể sắp được áp dụng ở 11 nước châu Âu từ năm 2014.

Từ thuế Tobin đến thuế giao dịch tài chính ở châu Âu

Thuế Tobin là gì?

Vào đầu những năm 1970, James Tobin (1918 - 2002), nhà kinh tế học đạt giải Nobel người Mỹ, từ ý tưởng của John Maynard Keynes, đã đề xuất một thứ thuế đánh vào các giao dịch ngoại tệ nhằm hạn chế sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái do hành vi đầu cơ tiền tệ gây ra. Loại thuế có tính chất như vậy được gọi gắn liền với tên tác giả của nó, gọi là thuế Tobin.

Thuế Tobin xuất hiện trong bối cảnh đổ vỡ của hệ thống tài chính quốc tế Bretton Woods (giai đoạn 1944 - 1971). Hệ thống Bretton Woods quy định mức tỷ giá cố định của các đồng tiền chính với đồng USD được gắn với vàng (1 ounce vàng bằng 35 USD) và các nước thành viên, trừ Mỹ có nhiệm vụ duy trì tỷ giá hối đoái cố định của họ với USD. Khi Mỹ tuyên bố không chuyển đổi từ USD thành vàng, đã dẫn đến sự từ bỏ chế độ Bretton Woods, mở ra giai đoạn mà tỷ giá hối đoái được thả nổi (năm 1973), biến động theo quy luật của thị trường.

Vì sao thuế Tobin chưa từng được áp dụng?

Từ ý tưởng chính sách đến áp dụng chính sách thuế là một quá trình phức tạp, vì phụ thuộc vào yếu tố chính trị, kinh tế và quản lý. Thuế Tobin không phải là một ngoại lệ. Cho đến nay, thuế Tobin (ở dạng ban đầu) vẫn chưa được áp dụng trên thực tế ở bất cứ quốc gia nào. Có 3 lý do giải thích vì sao thuế Tobin chưa áp dụng đó là: Tính khả thi của việc đạt được mục tiêu đề ra, sự phức tạp trong quản lý và khó đạt được đồng thuận chính trị giữa các quốc gia.

Trước hết, về khả năng hiện thực hóa mục tiêu của thuế Tobin. Ý định ban đầu của Tobin là “rắc cát vào bánh xe” của hệ thống tài chính toàn cầu với khoản thuế đủ nhỏ (ví dụ 0,5% như tác giả trả lời phỏng vấn năm 2001) để việc thực hiện giao dịch tài chính ngắn hạn, không mang lại lợi ích kinh tế mà không phải là gánh nặng của chính bản thân giao dịch tài chính đó.

Nói cách khác, mục tiêu chủ yếu của thuế Tobin là nhằm hạn chế sự biến động thái quá của tỷ giá hối đoái do hành vi đầu cơ gây ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh rằng thuế Tobin có ít tác dụng đến sự biến động của tỷ giá và có nguy cơ làm giảm tính thanh khoản của thị trường tài chính. Thực vậy, thuế là một khoản chi phí trong giao dịch tiền tệ, song chưa khẳng định được sự liên hệ trực tiếp giữa thuế và sự biến động của tỷ giá.

Điều này có nghĩa, nếu tăng thuế, sẽ không hạn chế được sự biến động của tỷ giá, nhất là trong điều kiện thị trường thiếu ổn định, thuế Tobin không đủ khả năng ngăn chặn khủng hoảng xảy ra. Bên cạnh đó, yếu tố thuế có thể làm giảm khối lượng giao dịch tiền tệ, khi khối lượng giao dịch giảm sẽ làm giảm tính thanh khoản của thị trường, trong khi đó thanh khoản của thị trường lại giúp thị trường tiền tệ hoạt động tốt hơn. Như vậy, khả năng thực hiện mục tiêu của thuế Tobin còn gây nhiều tranh cãi.

Bên cạnh đó, quản lý thuế Tobin còn gặp khó khăn ở việc lựa chọn tổ chức đứng ra quản lý, thu thuế, sử dụng tiền thuế thu được, đồng thời khả năng trốn, tránh thuế là khá lớn. Các giao dịch ngoại hối diễn ra có tính chất quốc tế giữa các nước với nhau, nên việc áp dụng thuế Tobin trên thực tế cần cơ quan quản lý thu ở phạm vi quốc gia, hay quốc tế. Nếu là cơ quan có tính chất quốc gia có thẩm quyền xác định mức thuế, quản lý và phân bổ tiền thuế sẽ không tránh khỏi xung đột lợi ích giữa các quốc gia, cản trở việc lưu chuyển nguồn vốn quốc tế.

Nếu để cho một tổ chức có quy mô quốc tế quản lý và thu thuế thì cũng có nhược điểm là các quốc gia phải từ chuyển giao một phần chủ quyền của mình; số tiền thuế thu được sẽ phân bổ như thế nào cho các quốc gia cũng là vấn đề khá nan giải, khó đạt được sự đồng thuận về tiêu chí phân bổ nguồn thu. Khả năng trốn, tránh thuế có khả năng thực hiện thông qua các công cụ, giao dịch được miễn thuế hoặc chuyển qua các quốc gia có mức thuế thấp (hoặc không thu thuế) bởi nguồn vốn không gặp trở ngại trong việc di chuyển giữa các quốc gia.

Cuối cùng, yếu tố khó khăn nhất khi áp dụng thuế Tobin là sự đồng thuận chính trị giữa các quốc gia, bởi vì phạm vi áp dụng càng hẹp thì tính khả thi cũng như hiệu lực, hiệu quả của chính sách này càng thấp, nhất là đối với những quốc gia có các trung tâm tài chính của thế giới. Việc áp dụng riêng lẻ sẽ dẫn đến hệ quả là nguồn vốn chảy đi nơi không có thuế, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của nước áp dụng thuế và chính sách trở nên vô hiệu.

Trước khi mất năm 2002, Tobin đã thay đổi quan điểm của mình và cho rằng thuế đối với giao dịch ngoại tệ là không khả thi, vì sự tự do hóa thị trường vốn khiến cho việc triển khai thực hiện thu thuế trở nên khó khăn, phức tạp hơn nhiều.

Phiên bản mới của thuế Tobin

Khi mới được đề xuất, thuế Tobin chưa gây được sự chú ý. Đến giữa những năm 1990, khi khủng hoảng tài chính xảy ra ở châu Á, Mexico và Nga, nó đã thu hút được sự quan tâm của các quốc gia và cộng đồng thế giới. Gần đây nhất, thuế Tobin đã trở lại trên bàn nghị sự của các nước phát triển khi nổ ra khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 mà có ý kiến cho rằng giới đầu cơ đóng vai trò quan trọng đối với khủng hoảng lần này.

Tuy chưa được áp dụng với ý tưởng ban đầu của mình, nhưng thuế Tobin nhiều khả năng sắp trở thành hiện thực ở 11 nước thuộc EU với một hình thức, tên gọi mới là thuế đối với các giao dịch tài chính. Thuế đối với các giao dịch tài chính dự kiến thu vào các giao dịch giữa các tổ chức tài chính với nhau, với mức thu 0,1% đối với chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu và 0,01% đối với giao dịch tài chính phái sinh.

Một số hoạt động được miễn thuế để tránh ảnh hưởng tới kinh tế như: giao dịch tài chính hàng ngày của công dân và doanh nghiệp (cho vay, thanh toán, gửi tiền...), tăng vốn của ngân hàng đầu tư, tái cấu trúc vốn, tái cấp vốn từ các tổ chức tài chính như Ngân hàng Trung ương châu Âu... Nguồn thuế thu được dự kiến đạt khoảng 35 tỷ euro mỗi năm. Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu (tháng 5/2012) thì ảnh hưởng của thuế đối với các giao dịch tài chính sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế chung của khối khoảng 0,3% và thậm chí thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thêm 0,1% nếu đầu tư 15 tỷ euro tiền thuế thu được vào hạ tầng kinh tế.

Sau khi Hội nghị các nước G20 (tháng 6/2010) không đạt được nhất trí về thuế đối với khu vực tài chính; tháng 9/2011, châu Âu đã chính thức thông qua kế hoạch áp dụng thuế này với mục đích để khu vực tài chính đóng góp nghĩa vụ của mình, khi mà các nước đã chi ra để cứu trợ các ngân hàng khi khủng hoảng xảy ra từ năm 2008. Kế hoạch này được 11 nước thuộc Liên minh châu Âu ủng hộ, bao gồm: Đức, Pháp, Áo, Bỉ, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Slovenia, Italia, Tây Ban Nha, Slovakia và Estonia. Dự thảo quy định về thuế giao dịch tài chính như đã nói ở trên nếu được Quốc hội châu Âu thông qua và sự phê chuẩn của tất cả 11 nước tham gia thì mới có hiệu lực thi hành (dự kiến từ 01/01/2014).

Thuế Tobin được nhiều ngân hàng trung ương các nước đánh giá là có nhiều nhược điểm hơn là ưu điểm, khi nó xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi đầu cơ tài chính là “xấu” và không nên khuyến khích. Dù còn nhiều ý kiến khác nhau về vai trò của đầu cơ đối với thị trường tài chính, song với những hệ lụy của khủng hoảng tài chính, tiền tệ đối với kinh tế, chính trị và xã hội của thế giới đã khiến những người có trách nhiệm phải suy nghĩ về các giải pháp phòng ngừa khủng hoảng tương tự có thể xảy ra trong tương lai.

(Phan Đức Huy)