25 năm: 100 tỷ USD đã vào Việt Nam

Tính đến hết tháng 2/2013, Việt Nam đã thu hút được 14.550 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 211 tỷ USD, trong đó, vốn thực hiện đạt gần 100 tỷ USD.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Đây là thông tin được Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đào Quang Thu đưa ra tại Hội nghị tổng kết 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.

FDI giúp thay đổi diện mạo nền kinh tế

Đầu tư nước ngoài cũng được đánh giá là khu vực phát triển năng động nhất với tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng cả nước, làm thay đổi căn bản diện mạo nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể, năm 2012, nộp ngân sách của khu vực FDI (không kể dầu thô) là 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách. Nếu so sánh với mức trung bình của thế giới, đóng góp của khu vực FDI vào GDP của Việt Nam cao hơn 7,7 điểm % đã cho thấy ảnh hưởng của khu vực này đến nền kinh tế Việt Nam khá lớn. Thực tế, tỷ trọng đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong GDP tăng dần, từ 2% GDP (1992) lên 12,7% (2000), 16,98% (2006) và 18,97% (2011)… bổ sung nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế (hiện chiếm 25% tổng vốn đầu tư xã hội); làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu (chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012); đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách (14,2 tỷ USD trong giai đoạn 2001 - 2010, riêng năm 2012 đóng góp khoảng 3,7 tỷ USD).

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngoài việc bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, thì khu vực này còn góp phần tạp việc làm cho trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3-4 triệu lao động gián tiếp. Đặc biệt, khu vực FDI đóng góp quan trọng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển giao công nghệ. Thống kê cho thấy, khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng của khu vực đầu tư nước ngoài bình quân đạt 18% năm, cao hơn tốc độ tăng chung toàn ngành. Đầu tư nước ngoài đã góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu… Đáng chú ý, sự  tham gia của DN FDI đã giúp thay đổi diện mạo của nhóm ngành dịch vụ, trong đó, tạo nên một số ngành dịch vụ chất lượng với giá thành ngày càng giảm như viễn thông, du lịch quốc tế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán,…

Cùng với đó, nhờ sự năng động cũng như mối quan hệ bạn hàng rộng lớn, các DN FDI đã giúp Việt Nam từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu như những năm trước 2001, xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô thì kể từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam khi chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012.

Chính Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng công nhận, “thực tiễn 25 năm qua cho thấy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một chủ trương đúng đắn, đã góp phần thực hiện nhiều mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước”.

…Vẫn chưa đủ

Bên cạnh những kết quả đạt được, theo Thứ trưởng Đào Quang Thu, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề trong hoạt động thu hút và quản lý FDI. Cụ thể, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài còn hạn chế; hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư của khu vực FDI còn chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp; chưa đạt mục tiêu thu hút công nghệ, chuyển giao công nghệ; hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế; một số dự án chất lượng chưa cao, quy mô dự án nhỏ, tỷ lệ giải ngân thấp so với yêu cầu… Một trong những nguyên nhân được Thứ trưởng Thu cho biết chính là do kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ thống doanh nghiệp trong nước… chuẩn bị chưa tốt dẫn đến giảm khả năng hấp thụ, cũng như hiệu quả của đầu tư nước ngoài.

Những vấn đề này được Thủ tướng nhấn mạnh cần khắc phục kịp thời. Đặc biệt, cần thiết phải có những thay đổi trong chính sách thu hút và tiếp nhận vốn FDI, trong đó, một tồn tại cần được giải quyết nhanh chóng là bất cập trong chính sách và thủ tục. Do đó, các Bộ, ngành chức năng, chính quyền các địa phương cần phải nỗ lực thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm như tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; khẩn trương hoàn thiện các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách về đầu tư theo hướng thuận lợi và có tính cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực; tạo môi trường thuận lợi nhất cho thu hút đầu tư. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án hợp tác công - tư (PPP), bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư đối ứng cho các dự án PPP này.  Đồng thời, có chính sách ưu đãi cao, đủ sức hấp dẫn đối với một số dự án hạ tầng kinh tế, xã hội có quy mô lớn, có tính lan toả và tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, có các dự án công nghệ cao có doanh thu, kim ngạch xuất khẩu hàng năm lớn và sử dụng nhiều lao động. Tài chính - Ngân hàng cũng là lĩnh vực cần được thu hút đầu tư mạnh trong thời gian tới nhằm tạo ra một thị trường tài chính lành mạnh cho Việt Nam.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Đào Quang Thu, vẫn cần xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích liên quan đến đầu tư nước ngoài, gồm lợi ích của quốc gia, lợi ích của nhà đầu tư, lợi ích của người lao động và lợi ích của cộng đồng dân cư…thay vì “tặng” nhà đầu tư FDI hết ưu đãi này đến ưu đãi khác. Cái cần ưu đãi nhất lúc này là cải thiện môi trường đầu tư nhằm bảo đảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, phát huy tối đa lợi thế của Việt Nam.

(T.Hương)