70% DN Nhật đầu tư vào Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh

Có 70% doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh và tiếp tục coi đây là cứ điểm quan trọng.

JETRO công bố xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.JETRO công bố xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.
Đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam, có khoảng 90% doanh nghiệp cho rằng lý do chính đáng để mở rộng kinh doanh tại Việt Nam chủ yếu là khả năng “tăng doanh thu”. Đối với doanh nghiệp phi sản xuất thì trên 60% số doanh nghiệp cho rằng Việt Nam có khả năng tăng trưởng cao và có tiềm năng.
 
Đây là con số quan trọng được Tổ chức Thúc đẩy Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) cho biết tại Lễ công bố xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam dựa trên kết quả khảo sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nhật Bản tại Châu Á và Châu Đại Dương trong năm 2013 diễn ra hôm nay, ngày 24/2. Cụ thể, có 60-70% doanh nghiệp được hỏi cho biết họ đang làm ăn có lãi. Tại Việt Nam, cho dù tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ là 25,6%, tăng 5,3% so với năm trước nhưng số doanh nghiệp làm ăn có lãi vẫn chiếm 60%. Nếu tính theo loại hình doanh nghiệp thì các doanh nghiệp chế xuất (EPE) hoạt động tốt hơn, còn trên 30% doanh nghiệp sản xuất không gia công xuất khẩu (Non EPE) trả lời là thua lỗ.
 
70% DN Nhật đầu tư vào Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh  ảnh 1
Ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Văn phòng JETRO Hà Nội. Ảnh: TH.
 
Ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Văn phòng JETRO Hà Nội cho biết: Minh chứng rõ nét cho tiềm năng của Việt Nam thể hiện qua việc số vốn đầu tư và Việt Nam năm 2013 tăng 3 năm liên tiếp. Trong đó, điểm nổi bật là Hàn Quốc dẫn đầu về đầu tư mới, đứng vị trí số 1 về vốn của dự án đầu tư mới. Trong khi đó, Nhật Bản lại dẫn đầu về đầu tư mở rộng, đứng vị trí số 1 về số vốn của dự án đầu tư mở rộng. Có được điều này là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Trung Quốc giảm. Mặt khác, vốn đầu tư vào Thái Lan tuy vẫn cao hơn Việt Nam và Indonesia nhưng cũng giảm so với năm trước cả về số lượng dự án và vốn đầu tư. Kết quả là đầu tư vào ASEAN 6 cũng tăng nhanh và một phần vốn đã được chuyển vào Việt Nam (tổng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam năm 2013 là 5,748 tỷ USD), và số vốn đổ vào Indonesia tăng cả về số lượng dự án và vốn đầu tư (3.637 tỷ USD). Ở chiều ngược lại, tỷ lệ xuất khẩu 100% của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản là lớn nhất, chiếm trên 60% tỷ lệ xuất khẩu của Việt Nam.
 
Quá nửa doanh nghiệp trả lời cùng đánh giá cao quy mô thị trường, khả năng tăng trưởng cũng như tình hình chính trị - xã hội ổn định của Việt Nam. Theo khảo sát, Việt Nam được xếp thứ 6 trên tổng số 20 quốc gia về tiêu chí quy mô thị trường, khả năng tăng trưởng và chính trị, xã hội ổn định. Đặc biệt, Việt Nam xếp vị trí thứ 4 (33,3%) trong số 15 quốc gia có nguồn lao động dễ tuyển dụng. Tuy nhiên, những yếu tố như khả năng phát triển công nghiệp hỗ trợ (1,9%); hạ tầng điện, giao thông, viễn thông đồng bộ (4,8%); ít gặp trở ngại trong giao tiếp và ngôn ngữ (7%) là những nội dung được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá thấp.
 
Nhiều rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam
 
Một trong những lý do khiến Việt Nam vẫn nằm trong nhóm rủi ro cao khi đầu tư là do các yếu tố như chi phí nhân công tăng vọt, thủ tục hành chính, chính sách của Chính phủ không minh bạch, chế độ thuế, thủ tục thuế quan và hệ thống pháp luật. Điển hình là Việt Nam luôn nằm trong nhóm 7 nước ở vị trí cao có rủi ro về môi trường đầu tư với vị trí thứ 5 về chi phí nhân công tăng vọt và chính sách của Chính phủ không minh bạch; xếp thứ 3 về thủ tục hành chính phức tạp và chế độ thuế, thủ tục thuế quan phức tạp. Về vấn đề tiền lương, tỷ lệ tăng lương tối thiểu của Việt Nam có giảm đi do tình hình kinh tế suy thoái nhưng vẫn ở mức cao, dù vậy, tính tổng tiền lương cả năm của người lao động Việt Nam lại tương đối thấp so với các nước khác.
 
Có hơn 60% số doanh nghiệp cho rằng các nhân tố trên là những rào cản lớn khi đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, những vấn đề như khó khăn trong nội địa hóa nguyên liệu, vật tư hay thủ tục hải quan phức tạp cũng được cho là rủi ro trong kinh doanh và tỷ lệ này đang có diễn biến xấu đi khi yếu tố thủ tục hải quan phức tạp đã tăng lên 10,6 điểm so với năm 2012.
 
Hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam mới chỉ đạt 32,2%. Cho dù tăng 4,3% so với năm trước nhưng so với các nước khác như Trung Quốc (64,2%), Thái Lan (52,7%), Malaysia (42,3%), Indonesia (40,8%) thì tỷ lệ này ở Việt Nam vẫn là thấp. Thực tế, theo đánh giá của các doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam mới chỉ đứng thứ 10 trên tổng số 20 quốc gia về khả năng phát triển công nghiệp hỗ trợ. Từ tỷ lệ cung cấp nguyên liệu, vật tư nội địa cho thấy tỷ lệ mua từ các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam là 42,6%, tăng 5,9% điểm. Tỷ lệ mua từ các doanh nghiệp Việt Nam là 41%, giảm 4% điểm.
 
Hiện nay, chi phí nguyên liệu chiếm 60% chi phí sản xuất, do đó, theo đại diện JETRO, để giảm giá thành sản xuất cần phải cắt giảm chi phí nguyên liệu. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh việc mua nguyên liệu, vật tư, tăng tỷ lệ nội địa hóa để tăng tính cạnh tranh về chi phí cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Để tăng tỷ lệ nội địa hóa ngoài các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nước ngoài, Chính phủ Việt Nam cần các chính sách hỗ trợ như cho vay vốn lãi suất thấp, phát triển nguồn nhân lực... cho doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này.
 
(T.Hương)