Áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tạo môi trường kinh doanh minh bạch

(eFinance Online) - Đó là nhận định của Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn tại hội thảo “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tại Việt Nam” diễn ra ngày hôm nay do Bộ Tài chính phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Quang Minh. Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Quang Minh.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, để phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì yêu cầu minh bạch hóa, từng bước thực hiện chuẩn mực quốc tế với báo cáo tài chính là cần thiết để tạo ra môi trường kinh doanh công khai minh bạch, thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập vào kinh tế quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia trên 14 hiệp định thương mại tự do, trong đó các hiệp định đều có các quy định về khuyến khích các dòng vốn đầu tư, khuyến khích tự do thương mại theo các khuôn khổ của WTO cũng như các hiệp định Việt Nam đã ký kết… để phát triển kinh tế. Để làm được điều này Việt Nam phải thực hiện chuẩn mực quốc tế của các báo cáo tài chính của cộng đồng doanh nghiệp.

Tình hình áp dụng chuẩn mực kế toán trên thế giới

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư, các quốc gia thường cho phép các doanh nghiệp lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc gia hoặc chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) khi lập và trình bày báo cáo tài chính. Theo tài liệu thống kê của Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), tính đến nay đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau. Trong đó có 119/143 (chiếm tỷ lệ 83,2%) quốc gia và vùng lãnh thổ đã yêu cầu bắt buộc sử dụng các chuẩn mực của IFRS đối với tất cả hoặc hầu hết các đơn vị lợi ích công chúng trong nước. Ở Châu Âu, 31 nước thành viên và 5 vùng lãnh thổ đã áp dụng toàn bộ IFRS. Việt Nam hiện nay là một trong số ít các quốc gia chưa có tuyên bố về việc áp dụng IFRS.

Lợi ích của việc áp dụng chuẩn mực IFRS đối với Việt Nam

Về cơ bản, việc áp dụng IFRS sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho mỗi quốc gia, cụ thể như sau: Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp sẽ được cải thiện một cách rõ rệt thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho người sử dụng báo cáo để đưa ra các quyết định quản lý, điều hành và đầu tư.

BCTC của doanh nghiệp Việt Nam có thể so sánh được với các doanh nghiệp khác trên thế giới. Đồng thời, do IFRS được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nên sẽ giúp người sử dụng BCTC có thể so sánh tình hình và kết quả tài chính của các doanh nghiệp giữa các quốc gia khác nhau một cách dễ dàng hơn do BCTC của các công ty được lập dựa trên cùng một hệ thống chuẩn mực nên giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thuận lợi hơn trong việc huy động vốn trên thị trường quốc tế.  

Thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán, tài chính tạo điều kiện cho việc xuất khẩu lao động có chuyên môn hoặc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài.

Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nên số lượng các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam sẽ có cơ hội gia tăng mạnh mẽ do các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam sẽ giảm bớt chi phí cho việc chuyển đổi báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam sang báo cáo tài chính theo IFRS để hợp nhất với công ty mẹ ở nước ngoài.

Giúp sớm đạt được sự công nhận của các tổ chức quốc tế về nền kinh tế thị trường của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động đàm phán quốc tế về kinh tế, tài chính.

Tạo thuận lợi trong công tác đánh giá, quản lý, giám sát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp của các đối tượng liên quan.

Thách thức của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam

Thị trường vốn, thị trường tài chính chưa phát triển đủ mạnh, một số công cụ tài chính như trái phiếu chuyển đổi, công cụ phái sinh, cổ phiếu ưu đãi chưa được giao dịch rộng rãi nên hầu hết các doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện giao dịch và hạch toán các nội dung kinh tế liên quan do đó không phải lúc nào cũng có thể cung cấp thông tin về giá trị hợp lý một cách đáng tin cậy;

Một số doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp Nhà nước) mà các doanh nghiệp này khó có thể áp dụng và đáp ứng yêu cầu của IFRS trong khi nhiều doanh nghiệp Nhà nước là công ty mẹ của các đơn vị có lợi ích công chúng có công ty con áp dụng IFRS trong khi chính sách kế toán của tập đoàn cần phải thống nhất để thực hiện việc hợp nhất Báo cáo tài chính.

Nguồn nhân lực nhìn chung chưa được đào tạo về IFRS, thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc thực hành IFRS, đại bộ phận kế toán viên đều chưa được đào tạo về IFRS nên sự sẵn sàng áp dụng IFRS còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp có tâm lý ngại thay đổi.

Do IFRS yêu cầu một số kỹ thuật phức tạp và thực hiện một số đánh giá mang tính chủ quan, như việc thực hiện các ước tính về giá trị hợp lý khi không có giá niêm yết trên thị trường, giá trị có thể thu hồi, tổn thất tài sản của đơn vị tạo tiền và lợi thế thương mại, xác định giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai… Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ, nếu không có một thời gian chuẩn bị thì việc áp dụng IFRS sẽ rất khó thành công.

Do IFRS được soạn thảo bằng tiếng Anh nên rào cản ngôn ngữ cũng là một khó khăn và thách thức. Để có thể phổ biến, quảng bá rộng rãi IFRS đến công chúng, IFRS cần phải được dịch nguyên mẫu từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Tuy nhiên việc chuyển tải chính xác các thuật ngữ chuyên môn không phải là điều dễ dàng vì người có đủ trình độ ngoại ngữ lại chưa chắc có đủ trình độ chuyên môn và ngược lại. Mặt khác, khi xảy ra tranh chấp giữa doanh nghiệp và kiểm toán, thanh tra…, rào cản ngôn ngữ sẽ là một trong những nguyên nhân gây tranh cãi nhiều nhất.

Việc xác định thu nhập chịu thuế của cơ quan thuế có thể trở nên phức tạp do khoảng cách giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán có thể càng ngày càng khác biệt khi doanh nghiệp lập BCTC theo IFRS.

Kinh nghiệm áp dụng IFRS trên thế giới

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cách thức và tiến trình áp dụng IFRS cho thấy, mỗi quốc gia thường tự chọn cho mình một lộ trình phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và cần một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS. Công việc này đòi hỏi nỗ lực lớn không chỉ từ góc độ của các nhà ban hành luật mà còn cả các doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng IFRS cũng như các bên có liên quan.

Có thể tổng hợp lại kinh nghiệm quốc tế trên một số khía cạnh như sau: Về đối tượng áp dụng: Một số quốc gia yêu cầu bắt buộc các công ty niêm yết hoặc công ty đại chúng phải áp dụng IFRS nhưng cũng có quốc gia không bắt buộc áp dụng IFRS mà cho phép doanh nghiệp được lựa chọn áp dụng giữa IFRS (chấp nhận IFRS) hoặc chuẩn mực kế toán quốc gia khi lập và trình bày BCTC. 

Về phạm vi áp dụng: Một số quốc gia quy định doanh nghiệp chỉ được áp dụng IFRS cho việc lập và trình bày BCTC hợp nhất mà không áp dụng cho BCTC riêng nhưng cũng có quốc gia cho phép áp dụng IFRS để lập cả BCTC riêng và BCTC hợp nhất.

Về cách thức và mức độ áp dụng IFRS: Bên cạnh những quốc gia áp dụng toàn bộ hệ thống IFRS tại một thời điểm (Big Bang) thì cũng có một số quốc gia áp dụng từng phần IFRS (theo lộ trình cho từng nhóm chuẩn mực) hoặc có điều chỉnh riêng chuẩn mực quốc gia để tiệm cận với chuẩn mực BCTC quốc tế và phù hợp với đặc điểm nền kinh tế. Thông thường, có 3 mức độ áp dụng IFRS là áp dụng toàn bộ IFRS, áp dụng IFRS có điều chỉnh và áp dụng IFRS theo từng phần.

Áp dụng toàn bộ IFRS:  Ở mức độ này, việc lập và trình bày BCTC của quốc gia sẽ được thực hiện theo hướng chấp nhận toàn bộ IFRS mà hầu như không có bất cứ điều chỉnh nào.

Áp dụng IFRS theo từng phần: Đây là cách thức áp dụng từng chuẩn mực IFRS và bỏ lại những chuẩn mực IFRS mà quốc gia không muốn áp dụng do không có phát sinh hoặc chuẩn mực của quốc tế chưa phù hợp với đặc điểm của quốc gia đó.

Áp dụng IFRS có điều chỉnh: Các quốc gia theo cách thức này không áp dụng toàn bộ IFRS mà điều chỉnh, bổ sung hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia tiệm cận (hội tụ) với IFRS theo một lộ trình nhất định.

Về thời điểm và lộ trình áp dụng: Do hệ thống IFRS tương đối phức tạp dưới cả góc độ của cơ quan soạn thảo chuẩn mực cũng như các doanh nghiệp là đối tượng thực hiện nên thông thường các quốc gia có ngôn ngữ khác với ngôn ngữ gốc của chuẩn mực (tiếng Anh) quy định hiệu lực áp dụng chuẩn mực IFRS tại quốc gia mình là từ 2-3 năm sau khi công bố bản dịch chuẩn mực hoặc công bố lộ trình áp dụng IFRS để các doanh nghiệp tại quốc gia đó có thời gian chuẩn bị.

Về cách thức tổ chức thực hiện: Các quốc gia thường thành lập một nhóm chuyên gia từ đại diện nhiều cơ quan liên quan để xây dựng lộ trình áp dụng IFRS, thậm chí thành lập một nhóm thường trực để hỗ trợ, giải đáp vướng mắc cho các doanh nghiệp trong quá trình triển khai áp dụng IFRS. Trong lộ trình hội nhập của riêng mình, các quốc gia đều phải thực hiện đồng bộ việc cải thiện hệ thống các quy định pháp lý có liên quan như: thuế, kế toán, kiểm toán, chứng khoán… với đào tạo nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực thực hiện.

Mục tiêu tổng quát của việc áp dụng IFRS

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tài chính, kế toán; tạo dựng công cụ quản lý hiệu lực, hiệu quả cho công tác quản trị, điều hành tại doanh nghiệp cũng như việc quản lý, giám sát của cơ quan chức năng Nhà nước trong giai đoạn mới, góp phần thực hiện thành công trong các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đẩt nước.

Thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế với khu vực và thế giới, góp phần nâng cao tính minh bạch của các thông tin tài chính hữu ích, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường kinh doanh, nhà đầu tư, góp phần tạo điều kiện để Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, nâng hạng thị trường chứng khoán, thu hút dòng vốn FDI.

Mục tiêu cụ thể

Xây dựng phương án, lộ trình, cách thức tổ chức thực hiện để áp dụng IFRS tại Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam.

Ban hành hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính của Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế; tổ chức hướng dẫn và triển khai thực hiện đến từng nhóm đối tượng cụ thể tại Việt Nam theo lộ trình phù hợp, nhằm mục đích nâng cao tính minh bạch, trung thực của báo cáo tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp đối với người sử dụng báo cáo tài chính.

Phương An