BIDV đề xuất giải pháp quản lý nợ công 5 năm tới

(eFinance Online) - Trung tâm Nghiên cứu Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa thực hiện báo cáo “Đánh giá thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016 - 2020”. 
Ảnh minh họa.Nguồn: Internet.Ảnh minh họa.Nguồn: Internet.

Theo BIDV báo cáo này được xây dựng nhằm đánh giá toàn diện thực trạng của nợ công, vai trò của quản lý nợ công với phát triển kinh tế xã hội; nhận diện các nguyên nhân, rủi ro tiềm ẩn của nợ công, từ đó đề xuất chính sách hướng tới sự an toàn, bền vững của nợ công và nền tài chính trong dài hạn.

Cụ thể, trong báo cáo của mình, BIDV đã chỉ ra bốn thực trạng về tình hình nợ công của Việt Nam. Thứ nhất, quy mô nợ công tại Việt Nam gia tăng nhanh, áp sát ngưỡng kiểm soát của Quốc hội. Trong giai đoạn 2011 - 2015, nợ công gia tăng nhanh chóng với mức 16,7%/năm. Theo đó, cuối năm 2015, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến 2.608 nghìn tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối năm 2011 (1.393 nghìn tỷ đồng). Về số tương đối, cuối năm 2015, nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65% của Quốc hội. Đáng lưu ý, theo nhiều chuyên gia, quy mô nợ công thực tế có thể đã cao hơn so với mức công bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế uy tín có sự khác biệt. 

Thứ hai, chúng ta đang gặp khó khăn trong quản lý nợ công về cơ cấu và kỳ hạn. Đối với nợ công nước ngoài, việc quản lý nguồn vốn này còn tồn tại và hạn chế như: quy trình và thủ tục quản lý chương trình và dự án ODA còn phức tạp. Nhiều dự án chậm tiến độ, trung bình trong những năm qua, tỷ lệ giải ngân vốn ODA chỉ đạt khoảng 71% tổng vốn đã ký kết.  Trong khi đó, nợ công trong nước, từ năm 2014, một lượng lớn TPCP đến hạn thanh toán và Chính phủ đang phải liên tục phát hành TPCP mới do NSNN không thể đáp ứng. Vì vậy, nhằm tránh rủi ro trên, Quốc hội đưa ra quy định về kỳ hạn TPCP là trên 5 năm vào năm 2015, theo đó, tỷ trọng TPCP kỳ hạn dài đã tăng lên 46%. Tuy nhiên, kỳ hạn của TPCP gia tăng cũng gây ra bất cập cho: người mua chính có nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 85% lượng phát hành là các ngân hàng thương mại (NHTM)); chi phí vốn của nền kinh tế có xu hướng tăng theo lãi suất TPCP dài hạn.    

Thực trạng thứ ba là việc sử dụng nợ công còn bất cập, hiệu quả sử dụng không cao, một phần đáng kể của nợ công được sử dụng để trả nợ thay cho đầu tư phát triển, cơ cấu chi ngân sách không bền vững, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nợ công và công tác quản lý nợ công có bước tiến nhưng vẫn còn hạn chế.

Thứ tư, theo các Tổ chức quốc tế và trong nước, khả năng vỡ nợ của Việt Nam là khá thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, nợ công vẫn đang là vấn đề cập bách. Các khoản lãi và một phần nợ gốc phải trả trong ngắn hạn đang ngày càng tăng cao, gây sức ép lên cân bằng NSNN. Do đó, Chính phủ đang phải liên tục phát hành TPCP để bù đắp thâm hụt NSNN. Hệ quả là, quy mô nợ công tăng theo tần suất và quy mô phát hành TPCP. Ngoài ra, lãi suất bị đẩy đi lên cao, gây ra khó khăn cho DN, từ đó làm giảm nguồn thu của NSNN để thanh toán các khoản vay.  

Xuất phát từ thực tế trên, Trung tâm nghiên cứu BIDV đã đưa ra một loạt các giải pháp nhằm tăng cường quản lý, sử dụng nợ công cho giai đoạn 2016 - 2020.

Cụ thể, Việt Nam cần hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nợ công như xem xét thành lập Ủy ban giám sát và kiểm soát nợ công (UBGS&KSNC- trực thuộc Quốc hội) có chức năng: Giám sát các vấn đề nợ công và NSNN; Giám sát, chỉ đạo hoạt động và sự phối hợp của các đơn vị liên quan tới các vấn đề trên...

Bộ Tài chính cần đưa ra văn bản hướng dẫn thi hành Luật về nợ công, quản trị rõ ràng; Xây dựng hệ thống quốc gia về khai báo các khoản vay; Trong thẩm quyền được giao, BTC tự ra quyết định về NSNN, phê duyệt các khoản vay và đầu tư trên cơ sở tham khảo ý kiến của các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp đã được UBGS&KSNC chấp thuận. Đổi mới trong quản lý vốn vay nước ngoài, theo BIDV cần thông qua một đầu mối cho vay và quản lý ODA.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần hoàn thiện các công cụ quản lý: Tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chỉ vay nợ khi có dự án hiệu quả và nguồn trả nợ rõ ràng, có tính đến các kịch bản rủi ro có thể xảy ra để đảm bảo khả năng thanh toán của Chính phủ. Tiến tới áp dụng quy tắc “ai hưởng lợi, người đó trả nợ” nhằm nâng cao trách nhiệm sử dụng và bảo vệ nguồn thu từ chủ dự án dùng vốn nợ công (kinh nghiệm của Trung Quốc). Tư nhân hóa các dự án công trên cơ sở đấu thầu công khai, cạnh tranh về giá cả và chất lượng và gắn với trách nhiệm cá nhân. 

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công và đầu tư công tại Việt Nam, theo BIDV cũng cần giao Bộ Tài chính xây dựng, hoàn thiện trình Chính phủ phương án tái cơ cấu nợ công. Gắn tái cơ cấu đầu tư công với tái cơ cấu NSNN, ngành tài chính-ngân hàng,  các DN và nền kinh tế. Cùng với đó cần tăng cường kỷ luật NSNN và phối hợp chính sách và pát triển nội lực của nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

(T.N)