Bộ Tài chính giải đáp đề nghị miễn 100% thuế bảo vệ môi trường cho hàng không

(eFinance Online) - Một số hãng hàng không kiến nghị miễn thuế bảo vệ môi trường đồng thời khẳng định việc áp dụng miễn giảm 100% thuế bảo vệ môi trường cho các hãng hàng không trong năm 2022 là cần thiết. Bộ Tài chính  cho rằng trong bối cảnh cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) còn khó khăn nhưng vẫn phải đảm bảo nhiều nhiệm vụ chi quan trọng, chiến lược như chi cho công tác đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, công tác phòng, chống dịch thì các doanh nghiệp cũng cần có sự chia sẻ nhất định với nhà nước
Ảnh minh họa - nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.Ảnh minh họa - nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, năm 2020, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, trình UBTVQH ban hành 02 Nghị quyết (Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 ngày 27/7/2020 và Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 ngày 21/12/2020) quy định giảm 30% mức thuế bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nhiên liệu bay (từ 3.000 đồng/lít xuống còn 2.100 đồng/lít). Tổng thời gian giảm thuế BVMT theo 02 Nghị quyết là 17 tháng (từ 01/8/2020 đến hết ngày 31/12/2021). 

Gần đây, để tiếp tục hỗ trợ cho ngành hàng không phục hồi và phát triển, trên cơ sở đánh giá hiệu quả, tác động của 02 Nghị quyết nêu trên, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ trình UBTVQH ban hành Nghị quyết số 13/2021/UBTVQH15 ngày 31/12/2021 kéo dài chính sách giảm mức thuế BVMT đối với nhiên liệu liệu bay thêm một thời gian và mức giảm cũng cao hơn nhằm góp phần hỗ trợ hơn nữa đối với ngành hàng không. Cụ thể, tại Nghị quyết số 13/2021/UBTVQH15 đã tăng mức giảm thuế BVMT đối với nhiên liệu bay từ 30% lên 50% và thời gian giảm được thực hiện cho đến hết năm 2022. 

Qua đánh giá cho thấy việc giảm thuế BVMT đối với nhiên liệu bay đã đem lại hiệu ứng tích cực nhất định cho ngành hàng không nói chung và doanh nghiệp vận tải hàng không nói riêng, góp phần giúp các doanh nghiệp vận tải hàng không giảm chi phí nhiên liệu đầu vào, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. So với nhiều ngành sản xuất khác thì đối với ngành hàng không bên cạnh được hưởng lợi từ những chính sách hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí chung, ví dụ, như chính sách giảm 2% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) (từ 10% xuống 8% trong năm 2022) quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội; chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế (thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp...), gia hạn tiền thuê đất hay chính sách miễn giảm một số khoản phí, lệ phí, thì ngành hàng không còn được hưởng thêm một số chính sách hỗ trợ khác như việc giảm mức thuế BVMT đối với nhiên liệu bay nêu trên. Trong bối cảnh cân đối NSNN còn khó khăn nhưng vẫn phải đảm bảo nhiều nhiệm vụ chi quan trọng, chiến lược như chi cho công tác đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, công tác phòng, chống dịch thì các doanh nghiệp cũng cần có sự chia sẻ nhất định với nhà nước.

Trong tháng 3/2022, dư luận cho rằng mức giảm trừ gia cảnh nên căn cứ theo mức lương tối thiểu vùng để mỗi năm khi tăng mức lương tối thiểu vùng thì mức giảm trừ cũng tự động tăng theo, thay vì cột cứng ở mức cố định như hiện nay khiến người lao động thiệt đơn thiệt kép. Ngoài ra, cần tăng mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc lên bằng 70% mức giảm trừ của người lao động vì mức 4,4 triệu đồng/tháng hiện nay đã quá lạc hậu.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính  có ý kiến như sau: Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) hiện hành, cá nhân được trừ các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trừ đi mức giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ (nếu có)… số còn lại mới là thu nhập làm căn cứ tính thuế TNCN. Đối với các cá nhân là người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nếu bị mất việc làm, không có thu nhập hoặc thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế thì không phải nộp thuế. Các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm... cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.

Ngày 2/6/2020, UBTVQH  thông qua Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN. Theo đó, điều chỉnh nâng mức giảm trừ cho người nộp thuế từ 9 triệu đồng/tháng lên 11 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc từ 3,6 triệu đồng/tháng lên 4,4 triệu đồng/tháng và áp dụng ngay từ kỳ tính thuế năm 2020. Việc điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN đã góp phần giảm bớt nghĩa vụ cho người nộp thuế, số thuế phải nộp đã giảm cho mọi đối tượng đang nộp thuế TNCN. 

Với việc điều chỉnh nâng mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế từ 9 triệu đồng lên 11 triệu đồng/tháng và cho mỗi người phụ thuộc từ 3,6 triệu đồng lên 4,4 triệu đồng/tháng thì người có thu nhập từ tiền lương, tiền công 17 triệu đồng/tháng (nếu có 1 người phụ thuộc) hay 22 triệu đồng/tháng (nếu có 2 người phụ thuộc) cũng chưa phải nộp thuế TNCN. Trường hợp cá nhân có thu nhập lớn hơn các mức nêu trên (17 triệu đồng/tháng, 22 triệu đồng/tháng) thì số thuế phải nộp cũng rất nhỏ so với thu nhập của cá nhân. Một số ví dụ gửi kèm.

Cá nhân có thu nhập dưới 100 triệu đồng/tháng, theo quy định hiện hành số thuế TNCN phải nộp so với thu nhập cũng chưa đến 20%, cụ thể: cá nhân có thu nhập 40 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 6,61%/thu nhập; thu nhập 60 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 11,86%/thu nhập; thu nhập 80 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 15,74%/thu nhập; thu nhập 100 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 18,66%/thu nhập. Đối với cá nhân có thu nhập ở mức cao trên 100 triệu đồng thì số thuế TNCN phải nộp mới ở tỷ lệ cao hơn 20%/thu nhập, cụ thể: cá nhân có thu nhập 110 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 20,15%/thu nhập; thu nhập 150 triệu đồng/tháng thì số thuế TNCN phải nộp là 24,11%/thu nhập... (Việc tính toán này với giả định cá nhân có 1 người phụ thuộc, trường hợp cá nhân có nhiều hơn 1 người phụ thuộc thì số thuế phải nộp cũng thấp hơn tương ứng.

Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng việc giảm thuế VAT từ 10% xuống còn 8% theo Nghị định số 15 của Chính phủ đã triển khai được hơn 1 tháng. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn không biết thông tin giảm VAT khi mua sắm, DN cũng rối bời xác định thuế với từng danh mục sản phẩm.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) có ý kiến như sau: Trong quá trình triển khai Nghị định số 15/2022/NĐ-CP, Tổng cục Thuế nhận được một số công văn của các Hiệp hội, doanh nghiệp, cục thuế và một số cơ quan báo chí phản ánh vướng mắc. Nghị định số 15/2022/NĐ-CP quy định loại trừ các nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể không được giảm thuế và quy định chi tiết danh mục hàng hóa, dịch vụ tại Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP không được giảm thuế giá trị gia tăng. Các Cục Thuế hướng dẫn người nộp thuế đối chiếu hàng hóa, dịch vụ mà người nộp thuế sản xuất, kinh doanh với các nhóm hàng hóa, dịch vụ loại trừ không được giảm thuế tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 15 và Danh mục hàng hóa, dịch vụ tại các Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định 15 để thực hiện đúng quy định.

Để giải quyết các vướng mắc của người nộp thuế, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn hướng dẫn chung như sau: Công văn số 2688/BTC-TCT ngày 23/3/2022 của Bộ Tài chính hướng dẫn Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về thuế GTGT tại Nghị định số 15/2022/NĐ-CP. Công văn số 902/TCT-CS ngày 25/3/2022 của Tổng cục Thuế hướng dẫnCục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về thuế GTGT tại Nghị định số 15/2022/NĐ-CP. 

Đối với việc tiệm vàng Phước Nguyên tại TP. Long Xuyên - tỉnh An Giang bị điều tra dấu hiệu trốn thuế vì không xuất hoá đơn, kê khai nộp thuế đối với số vàng giao dịch trị giá hơn 10.000 tỷ đồng; Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) có ý kiến như sau: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Tiệm Vàng Phước Nguyên có MST 1601863404, do ông Nguyễn Thanh Bình làm đại diện pháp luật. DNTN Phước Nguyên không có giấy phép hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

Theo tài liệu điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang thì từ 2015 đến 2020 qua các giao dịch thanh toán chuyển tiền qua ngân hàng thì Doanh nghiệp này có hành vi bán vàng, ngoại tệ không đúng quy định pháp luật, với doanh thu từ hoạt động kinh doanh bán vàng là trên 6.362 tỷ đồng. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bán vàng mà DNTN Phước Nguyên kê khai với Chi cục Thuế TP Long Xuyên từ 2015 đến 2020 là 339 tỷ đồng. Chênh lệch doanh thu bán vàng qua kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra từ 2015 đến 2020 là 6.023 tỷ đồng.

Theo tài liệu của cơ quan cảnh sát điều tra, ông Nguyễn Thanh Bình đã thuê một số người làm công và vợ của ông là bà Nguyễn Thị Mỹ Dung đứng tên chủ tài khoản mởi tại ngân hàng nhưng không khai báo với cơ quan thuế. Khi có hoạt động giao dịch mua bán vàng người mua chuyển tiền vào tài khoản này để thanh toán tiền nhằm mục đích giấu doanh thu để trốn thuế.

Do vàng có giao dịch lớn, theo thống kê chênh lệch giữa giá mua vào và bán ra dao động khoảng 1% đến 2% trên doanh thu bán ra. Do đó, số tiền thuế trốn ước tính là 90 tỷ đồng. Hiện cơ quan thuế vẫn đang phối hợp với cơ quan cảnh sát điều tra trong quá trình điều tra đồng thời chỉ đạo các cơ quan thuế tăng cường kiểm tra giám sát các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đá quý trên địa bàn quản lý.

Có ý kiến cho rằng vụ dừng hoàn thuế VAT xuất khẩu sắn không chỉ đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản mà còn khiến hàng triệu nông dân lâm cảnh khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Về vấn đề này, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) có ý kiến như sau: Chính sách thuế giá trị gia tăng hiện hành đã có những quy định ưu đãi trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo đó, quy định sản phẩm chưa qua chế biến do các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt, chăn nuôi thuộc đối tượng không chịu thuế. Các khâu trung gian mua bán kinh doanh thương mại các sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ chế của người nộp thuế kê khai theo phương pháp khấu trừ cũng không phải kê khai, nộp thuế GTGT.

Trường hợp các sản phẩm nông nghiệp nêu trên được các cơ sở sản xuất, chế biến thành sản phẩm tinh chế để bán thì: Các cơ sở sản xuất, chế biến trực tiếp xuất khẩu thì được hưởng thuế suất GTGT xuất khẩu là 0% (Thuế GTGT đầu vào phát sinh của các phụ liệu phụ trợ chiếm tỷ lệ thấp); Các cơ sở sản xuất, chế biến sau khi chế biến thành sản phẩm tinh chế nêu trên bán lại cho doanh nghiệp nội địa để kinh doanh xuất khẩu thì sẽ chịu thuế suất GTGT 10%. Các doanh nghiệp nội địa này khi xuất khẩu được hưởng thuế suất GTGT là 0% và sẽ được hoàn lại từ NSNN số thuế GTGT đầu vào đã kê khai nộp thuế ở khâu trước đó nếu đáp ứng đủ các điều kiện về hoàn thuế xuất khẩu theo quy định (Có đầy đủ hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai xuất khẩu, chứng từ thanh toán qua ngân hàng ghi đầy đủ các nội dung theo quy định như: Tên đơn vị chuyển khoản, số tài khoản đơn vị chuyển khoản, số tiền chuyển khoản phù hợp với giá trị thanh toán ghi trên hợp đồng...).

Chính sách hoàn thuế GTGT đã được quy định cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Theo đó, đã quy định cụ thể về hồ sơ hoàn thuế gồm các văn bản thông thường của hoạt động thương mại như hợp đồng mua bán hàng hóa, tờ khai hải quan, hóa đơn, chứng từ thanh toán qua ngân hàng được chuyển từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản của bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng; Trường hợp thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật. Việc tuân thủ đầy đủ các quy định về nội dung ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng là một trong các căn cứ chứng minh, xác thực việc mua hàng, xuất khẩu để làm cơ sở giải quyết hoàn thuế GTGT từ NSNN.

Đa số các doanh nghiệp đã thực hiện tốt nghĩa vụ với NSNN và thực hiện hoàn thuế GTGT theo quy định nhưng thời gian qua vẫn còn một số doanh nghiệp lợi dụng chính sách khuyến khích của nhà nước để làm giả hồ sơ giấy tờ, kê khai khống hóa đơn,… nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT. Một số vụ việc điển hình đã được cơ quan Công an phối hợp xử lý như: Công ty TNHH JUNMA Phú Thọ, Công ty CP phát triển nhà Thủ Đức…

Để công tác quản lý hoàn thuế GTGT đảm bảo đúng quy định pháp luật, tránh thất thoát ngân sách nhà nước, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 632/TCT-TTKT ngày 07/3/2022 chỉ đạo các Cục Thuế kiểm tra, rà soát và đối chiếu các doanh nghiệp trên địa bàn có phát sinh giao dịch mua bán với các doanh nghiệp, tổ chức có tên trong tài liệu xác minh từ cơ quan thuế Trung Quốc để xác định rõ số kỳ hoàn, số tiền thuế đã hoàn, số thuế đang đề nghị hoàn. Trường hợp xác định có hành vi vi phạm, không đủ điều kiện về hoàn thuế GTGT thì kịp thời xử lý thu hồi tiền hoàn thuế về ngân sách nhà nước, nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì củng cố hồ sơ hành vi vi phạm chuyển quan Công an điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về kiến nghị của Hiệp hội Sắn Việt Nam thì ngày 10/12/2021, Bộ Tài chính đã tổ chức cuộc họp với Hiệp hội Sắn Việt Nam (thành phần gồm các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan). Tại cuộc họp, Bộ Tài chính đã hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc với Hiệp hội Sắn Việt Nam, theo đó, các doanh nghiệp nếu đáp ứng được đầy đủ các điều kiện, thủ tục về hoàn thuế thì được hoàn thuế từ Ngân sách nhà nước theo quy định. Về các đơn kiến nghị của Hiệp Hội Sắn Việt Nam, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã có các văn bản trả lời, giải đáp đầy đủ (Công văn số 11309/BTC-CST ngày 01/10/2021, Công văn số 3275/TCT-TTKT ngày 31/08/2021, Công văn số 543/TCT-TTKT ngày 25/02/2022). 

Do cơ quan thuế chưa có chức năng điều tra nên việc phối hợp với các cơ quan, ban ngành để xác minh các điều kiện, thủ tục trong việc kiểm tra hồ sơ hoàn thuế là một trong các biện pháp nghiệp vụ của ngành thuế để thực hiện quản lý thuế nói chung và thanh tra, kiểm tra hoàn thuế nói riêng đảm bảo việc hoàn thuế đúng quy định. Đối với các trường hợp vi phạm trong khâu xác minh nêu trên, hiện nay cơ quan thuế đã có Công văn số 20/TCT-TTKT ngày 23/3/2022 chuyển thông tin, hồ sơ sang cơ quan công an đề nghị điều tra, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm (nếu có) theo quy định của pháp luật. 

Quang MInh