Bộ Tài chính giải đáp một số vấn đề quản lý thuế

(eFinance Online) - Cơ quan báo chí, người dân, doanh nghiệp đã đặt một số câu hỏi liên quan tới lĩnh vực quản lý thuế cụ thể: quản lý thuế đối với giao dịch liên kết và công tác thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở tại các chung cư, cao ốc. Phản hồi về vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết việc xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nghiên cứu (có thể nâng mức cao hơn – không giữ ở 25% như hiện tại) để phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu bằng vốn vay.  Việc thu thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở là thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành cũng như luật pháp của nhiều nước trên thế giới.
Ảnh minh họa – nguồn: internet.Ảnh minh họa – nguồn: internet.

Hỏi: Hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên cho rằng, thông báo mới của Tổng cục Thuế tại Hội nghị trực tuyến ngày 18/3/2021 đang khiến 7.800 doanh nghiệp hoang mang khi đưa trường hợp “Công ty vay của ngân hàng thương mại với tỷ lệ trên 25% vốn chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn được xác định là các bên có quan hệ liên kết. Khi đó giao dịch phát sinh giữa 02 bên là giao dịch liên kết”. Nếu đưa ngân hàng và doanh nghiệp vào là giao dịch liên kết theo điểm d khoản 2 Điều 5 thì thực chất quy định này dường như chuyển hướng mục tiêu “chống vốn mỏng” đối với doanh nghiệp; chứ không phải nhằm mục tiêu chống chuyển giá; trái với tinh thần của Nghị định về quản lý thuế đối với giao dịch liên kết. 

Trả lời: Theo Quy định về giao dịch liên kết thì:

Quy định về xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay được quy định tại Thông tư số 117/2005/TT-BTC, Thông tư số 66/2010/TT-BTC, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP và Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.  Đây không phải là quy định mới về xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay. Nghị định số 20/2017/NĐ-CP và Nghị định số 132/2020/NĐ-CP còn nâng mức tỷ lệ cao hơn so với quy định tại Thông tư số 66 (từ 20% lên mức 25%). 
Khi xác định 02 doanh nghiệp có mối quan hệ liên kết thì giao dịch phát sinh giữa 2 doanh nghiệp này là giao dịch liên kết và phải thực hiện kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo quy định. Đồng thời nếu doanh nghiệp có giao dịch liên kết chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế sẽ áp dụng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP) và khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP. Do đó, đây không phải là quy định mới gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay.

Tuy nhiên, do nhiều doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu hoạt động bằng việc vay vốn ngân hàng với mức vốn vay lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu nên nhiều doanh nghiệp được xác định có mối quan hệ liên kết với doanh nghiệp là Ngân hàng khi vay vượt 25% vốn góp của chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng các khoản nợ trung và dài hạn. 

Định hướng trong thời gian tới

Qua triển khai thực hiện, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) cũng nhận được một số văn bản hỏi của các Cục Thuế về việc xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay trong đó có xác định mối quan hệ liên kết vay giữa doanh nghiệp với ngân hàng với mức vốn vay trên 25% vốn chủ sở hữu. Giao dịch xác định chi phí lãi vay với ngân hàng theo nguyên tắc giao dịch độc lập không phải là vướng mắc của doanh nghiệp mà vấn đề là ở việc khi xác định có quan hệ liên kết theo vốn vay với ngân hàng, doanh nghiệp và ngân hàng phát sinh giao dịch sẽ được xác định là giao dịch liên kết, chi phí lãi vay được trừ của doanh nghiệp sẽ áp dụng khống chế theo quy định của Nghị định.

Theo đó, việc xác định mối quan hệ liên kết theo vốn vay với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nghiên cứu (có thể nâng mức cao hơn – không giữ ở 25% như hiện tại) để phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu bằng vốn vay.  

Tuy nhiên, việc nghiên cứu này cũng cần phải cân nhắc thêm do Nghị quyết Số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị đã đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “ … Nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng "vốn mỏng", chuyển giá, đầu tư "chui", đầu tư "núp bóng"….”

Tại buổi trao đổi với chuyên gia (dự án RARS) về vấn đề vốn mỏng có nên áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp Việt Nam hay không, chuyên gia cũng khuyến nghị, Việt Nam các doanh nghiệp thường vay nhiều, “mức thị trường” không phải là vay gấp 3->4 lần vốn chủ sở hữu mà có thể có thể tới 7->8 lần. Do đó cân nhắc khi đưa ra quy định về vốn mỏng áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp.

Hỏi: Ban Chỉ đạo chống thất thu ngân sách nhà nước TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc thu, chống thất thu ngân sách nhà nước năm 2021, trong đó có chuyên đề quản lý công tác thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở tại các chung cư, cao ốc. Trước mắt, chuyên đề này sẽ được thí điểm tại một số chung cư ở quận 11. Các chuyên gia tài chính ủng hộ việc thu thuế căn hộ, nhà ở cho thuê là chuyện bình thường, đã được ngành thuế thực hiện từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào để đúng quy định pháp luật, để thuận tiện cho người dân (chủ hộ), bảo đảm minh bạch và công bằng. Quan điểm của Bộ Tài chính về vấn đề này thế nào? 

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thì cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu trở xuống không thuộc diện chịu thuế. Các trường hợp cá nhân có bất động sản cho thuê có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trên 8,3 triệu đồng/tháng) được xác định là đối tượng phải kê khai, nộp thuế.
Theo đó, việc thu thuế đối với hoạt động cho thuê căn hộ, nhà ở là thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành cũng như luật pháp của nhiều nước trên thế giới.

Trong thời gian tới, để những người cho thuê căn hộ, cho thuê nhà ở thuộc diện đóng thuế thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và xã hội được thuận lợi nhất, ngành thuế cũng sẽ đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi để người dân hiểu được việc đóng thuế khi cho thuê nhà ở là trách nhiệm và nghĩa vụ và phải nghiêm túc chấp hành.

Hỏi: Có ý kiến cho rằng, ngưỡng thuế cho thuê nhà hiện nay đang quá lạc hậu khiến nhiều người cho thuê nhà ấm ức. Mức doanh thu tính thuế 100 triệu đồng/năm không những đối với cho thuê nhà mà cả các lĩnh vực, ngành nghề khác cũng quá thấp. Bộ Tài chính cần chỉnh sửa quy định mức này có thể tăng lên 150 triệu đồng/năm và khi mức trượt giá tăng trên 20% thì điều chỉnh. Đồng thời cho phép người thuê nhà nói riêng cũng như cá nhân, hộ kinh doanh nói chung được khấu trừ chi phí trước khi tính doanh thu tính thuế… 

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật thuế GTGT và Luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu trở xuống không thuộc diện chịu thuế. Các trường hợp cá nhân có bất động sản cho thuê có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm (trên 8,3 triệu đồng/tháng) được xác định là đối tượng phải kê khai, nộp thuế.

Theo quy định tại Biểu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính thì hoạt động cho thuê tài sản không kèm theo dịch vụ lưu trú chịu thuế 10% (GTGT 5%, TNCN 5%). Dịch vụ lưu trú không tính vào hoạt động cho thuê tài sản gồm: cung cấp cơ sở lưu trú ngắn hạn cho khách du lịch, khách vãng lai; cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn cho sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự; cung cấp cơ sở lưu trú cùng dịch vụ ăn uống và các phương tiện giải trí. Dịch vụ lưu trú không bao gồm: cung cấp cơ sở lưu trú dài hạn được coi như cơ sở thường trú như cho thuê căn hộ hàng tháng hoặc hàng năm được phân loại trong ngành bất động sản theo quy định của pháp luật về Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam. 

Như vậy mặc dù thuế suất đối với hoạt động cho thuê bất động sản ở mức cao hơn so với các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, nhưng đã loại trừ các hoạt động mang tính lưu trú, các hoạt động cho thuê đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội như sinh viên, công nhân và những đối tượng tương tự. Những trường hợp cho thuê bất động sản thuộc diện chịu thuế 10% đều được xác định là những trường hợp kinh doanh bất động sản (theo Luật kinh doanh bất động sản). Việc kinh doanh bất động sản theo hình thức cho thuê trong thời gian vừa qua mặc dù không bằng lãi tiết kiệm khi để tiền ngân hàng, khách hàng thuê không ổn định nhưng vẫn thu hút nhiều cá nhân có tiền nhàn rỗi hoặc tiền vay (nhưng khả năng trả nợ tiền vay tốt) đầu tư vào lĩnh vực này vì cái được lớn nhất là có được tài sản để dành - sở hữu lâu dài và tài sản đó có thể đem lại dòng tiền ổn định theo năm tháng, không bị mất giá, thậm chí là tài sản tích luỹ.

Việc đặt vấn đề tính toán các khoản chi phí cho hoạt động cho thuê bất động sản (tiền mua bất động sản, chi phí lãi vay, ...) là không phù hợp vì phải tính đến các yếu tố sở hữu bất động sản lâu dài, bất động sản có thể tăng giá trong tương lai. Đối với hoạt động cho thuê thông thường chỉ có thể tính đến các chi phí mang tính phát sinh thường xuyên trong thời gian cho thuê hoặc để phục vụ cho mục đích cho thuê (chi phí bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt thiết bị nội thất,....). Để xử lý vấn đề không được trừ chi phí hợp lý như nêu trên của cá nhân cho thuê bất động sản, chính sách thuế đã xây dựng mức thuế của cá nhân thấp hơn so với doanh nghiệp. Cụ thể: thuế GTGT của cá nhân là 5% trong khi của doanh nghiệp là 10%; thuế TNCN của cá nhân là 5% trong khi thuế TNDN của doanh nghiệp là 20% trên chênh lệch (doanh thu trừ (-) chi phí). 

Tuy nhiên, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) cũng thường xuyên lắng nghe, ghi nhận ý kiến của các chuyên gia và đang nghiên cứu để đề xuất với Bộ Tài chính xem xét báo cáo Chính phủ trình Quốc hội nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế trong chương trình sửa Luật thuế GTGT trong thời gian tới để phù hợp với tình hình thực tế.

Quang Minh