Bộ Tài chính giải đáp vướng mắc liên quan đến lĩnh vực thuế

(eFinance Online) - Bộ Tài chính vừa giải đáp vướng mắc liên quan đến thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng (GTGT) và việc thực thi Nghị định số 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm thuế GTGT. 
Ảnh minh họa – nguồn: internet.Ảnh minh họa – nguồn: internet.

Trong tháng 2/2022, trên Báo Thanh niên và Báo Lao Động đăng bài nêu: Về việc huấn luyện viên Mai Đức Chung phải nộp 30% tiền thuế thu nhập cá nhân (TNCN), các cầu thủ đội tuyển nữ phải đóng thêm 10% tiền thuế và báo chí cho rằng nên xem xét miễn thuế đối với những khoản thưởng mà họ nhận được vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc đưa Việt Nam giành vé dự World Cup. Mở rộng vấn đề, bài báo nêu ý kiến trên thực tế, mức thuế suất với người nộp thuế là 11 triệu, người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng đã được phân tích là không phù hợp với mặt bằng giá cả nhiều năm nay nhưng vẫn được duy trì. Quan trọng hơn, đang có sự thiếu công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, trong đó người làm công ăn lương thiệt thòi hơn cả. Chúng ta đều thấy, hơn hai năm bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ nhiều chính sách hỗ trợ các hộ kinh doanh, doanh nghiệp trong khi người làm công ăn lương lại chưa được đề xuất chính sách hỗ trợ nào. Sẽ càng bất công hơn khi trong điều kiện bình thường, họ đã đóng góp cho ngân sách nhà nước, nhưng khi họ gặp khó khăn thì chính sách thuế lại bỏ quên họ. 

Trả lời về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Về nội dung kiến nghị thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) đối với đội tuyển bóng đá nữ: Ngày 14/02/2022, Báo Thanh niên có các bài “Thuế thu nhập cá nhân của đội tuyển nữ có hợp lý” và “Công bằng với người nộp thuế” có nêu vấn đề về huấn luyện viên Mai Đức Chung phải nộp 30% tiền thuế TNCN, các cầu thủ đội tuyển nữ phải đóng thêm 10% tiền thuế và báo chí cho rằng nên xem xét miễn thuế đối với những khoản thưởng mà họ nhận được vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc, đưa Việt Nam giành vé dự World Cup.

Căn cứ Điều 3 Luật thuế TNCN và thực tế các khoản tiền thưởng của đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam nhận được, xem xét theo tính chất từng khoản thu nhập để xác định việc kê khai, nộp hoặc không phải nộp thuế TNCN theo quy định.

Cụ thể: Trường hợp cá nhân có thu nhập từ nhận tiền thưởng cho giành vé dự World Cup, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đảm bảo điều kiện là giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được nhà nước Việt Nam thừa nhận; tiền thưởng theo quy định của Luật thi đua khen thưởng thì các khoản thu nhập này được trừ khỏi thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNCN. 

Trường hợp tiền thưởng của các tập đoàn kinh tế, ngân hàng, các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân cho đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam thông qua tổ chức quản lý cầu thủ, huấn luyện viên và cá nhân cầu thủ, huấn luyện viên nhận được thu nhập mang tính chất tiền lương, tiền công và/hoặc thực hiện theo quy định tài chính về thu chi, thưởng của Liên đoàn bóng đá Việt Nam thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công. Tùy thuộc vào quy định tại hợp đồng lao động của cầu thủ, huấn luyện viên, thành viên đội tuyển, Liên đoàn thực hiện tính thuế, khai nộp thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần hoặc tạm khấu trừ thuế 10% đối với thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên. Cuối năm cá nhân thực hiện quyết toán.

Trường hợp cá nhân nhận tặng thưởng trực tiếp là quà tặng bằng chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì cá nhân nhận thu nhập phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ nhận quà tặng theo quy định.

Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) đã có công văn số 1324/TCT-TNCN ngày 16/04/2018 gửi Liên đoàn bóng đá Việt Nam về việc hướng dẫn thuế TNCN đối với đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam.

Về nội dung kiến nghị đang có sự thiếu công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, trong đó người làm công ăn lương thiệt thòi hơn cả... (thuộc nội dung mức giảm trừ gia cảnh và biểu thuế lũy tiến từng phần): Vừa qua báo chí nêu ý kiến cần giảm mức thuế suất ở các bậc thuế tính thuế TNCN đồng thời cho rằng mức giảm trừ gia cảnh là không phù hợp với mặt bằng giá cả nhiều năm nay. Điều này tạo ra sự thiếu công bằng đối với các đối tượng nộp thuế, trong đó có người làm công ăn lương sẽ thiệt thòi hơn cả trong thời kỳ đại dịch Covid-19 do chưa được đề xuất chính sách hỗ trợ nào. Sẽ càng bất công hơn khi trong điều kiện bình thường, họ đã đóng góp cho ngân sách nhà nước, nhưng khi họ gặp khó khăn thì chính sách thuế lại bỏ quên họ.

Theo quy định của Luật thuế TNCN hiện hành, cá nhân được trừ các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trừ đi mức giảm trừ gia cảnh, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ (nếu có)… số còn lại mới là thu nhập làm căn cứ tính thuế TNCN. 

Đối với các cá nhân là người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nếu bị mất việc làm, không có thu nhập hoặc thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế thì không phải nộp thuế. Các khoản trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm... cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.  

Ngày 02/6/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2020. Việc điều chỉnh nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN đã góp phần giảm bớt nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế, số thuế phải nộp sẽ được giảm cho mọi đối tượng đang nộp thuế TNCN từ tiền lương, tiền công. 

Với việc điều chỉnh nâng mức giảm trừ cho bản thân người nộp thuế từ 9 triệu đồng lên 11 triệu đồng/tháng và cho mỗi người phụ thuộc từ 3,6 triệu đồng lên 4,4 triệu đồng/tháng thì người có thu nhập từ tiền lương, tiền công 17 triệu đồng/tháng (nếu có 1 người phụ thuộc) hay 22 triệu đồng/tháng (nếu có 2 người phụ thuộc) cũng chưa phải nộp thuế TNCN. Trường hợp cá nhân có thu nhập lớn hơn các mức nêu trên (17 triệu đồng/tháng, 22 triệu đồng/tháng) thì số thuế phải nộp cũng rất nhỏ so với thu nhập của cá nhân.

Về biểu thuế, thực tế thực hiện cũng có ý kiến phản ánh cho rằng Biểu thuế lũy tiến từng phần hiện hành là không hợp lý dẫn đến nhiều vướng mắc như: Quá nhiều bậc, giãn cách giữa các bậc thấp quá hẹp dễ dẫn đến nhảy bậc thuế khi tổng hợp thu nhập vào cuối năm làm tăng số thuế phải nộp, tăng số lượng phải quyết toán thuế; Thu nhập tính thuế ở từng bậc theo số lẻ dẫn đến khó nhớ, người nộp thuế khó khăn trong việc tự xác định số thuế phải nộp. Về vấn đề này, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục nghiên cứu để có điều chỉnh phù hợp khi sửa Luật thuế TNCN.

Theo phản ánh, Nghị dịnh số 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm thuế giá trị gia tăng (VAT) từ 10% xuống 8% đã có hiệu lực từ ngày 01/02/2022. Tuy nhiên qua khảo sát còn rất nhiều người dân, doanh nghiệp chưa nắm được quy định này. Trong khi người dân mong mỏi được giảm thuế thì một số doanh nghiệp (DN) cho rằng không phải họ không muốn làm mà vì họ không thể nắm rõ mặt hàng nào thuộc danh mục được giảm thuế VAT, mặt hàng nào không; hoặc gặp khó trong khâu tra cứu, đối chiếu mã hàng hóa, dịch vụ để áp thuế VAT 8%. DN cũng mong Bộ Tài chính sớm có thông tư hướng dẫn chi tiết để Nghị định đi vào cuộc sống.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Ngày 28/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/NQ-QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội. Theo đó, về thuế giá trị gia tăng: giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng từ ngày 01/02/2022 đến hết ngày 31/12/2022 đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% (còn 8%) trừ một số hàng hóa, dịch vụ (Các hàng hóa, dịch vụ không được giảm thuế gồm 12 nhóm và quy định chi tiết tại các Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định).

Ngay khi Nghị định số 15 được ban hành, ngày 28/01/2022, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) đã có Công điện số 01/CĐ-TCT yêu cầu các Cục Thuế chủ động tuyên truyền, phổ biến cho người nộp thuế trên địa bàn để kịp thời thực hiện Nghị định số 15 quy định chi tiết thi hành chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/NQ-QH15 của Quốc hội nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong giai đoạn hiện nay. Sau khi kết thúc kỳ nghỉ lễ Tết nguyên đán Nhâm Dần, Tổng cục Thuế đã ban hành Công điện số 02/CĐ-TCT ngày 09/02/2022 yêu cầu các đồng chí Cục trưởng Cục Thuế chỉ đạo các phòng, các Chi cục Thuế cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn quản lý; bám sát địa bàn, người nộp thuế để hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách của Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt là các doanh nghiệp, tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh các nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện giảm thuế GTGT trên địa bàn để thực hiện đúng quy định về giảm 2% thuế suất thuế GTGT trong năm 2022 theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội và Nghị định số 15/2022/NĐ-CP của Chính phủ.

Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) cũng thường xuyên tuyên truyền, giải thích Nghị định số 15/2022/NĐ-CP cho Người nộp thuế qua website cũng như các kênh hỗ trợ khác nhau.
1.2. Về một số ý kiến báo chí phản ánh thời gian qua.

Tại Nghị định 15/2022/NĐ-CP đã quy định loại trừ 12 nhóm hàng hóa, dịch vụ không được giảm thuế GTGT và chi tiết tại 3 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định.

Về nội dung phản ánh liên quan đến giá của hàng hóa tại các chợ dân sinh: Tại Nghị định số 15/2022/NĐ-CP đã quy định trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tính thuế GTGT theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu được giảm 20% mức tỷ lệ % để tính thuế GTGT khi thực hiện xuất hóa đơn cho hàng hóa, dịch vụ giảm thuế giá trị gia tăng. 

Hiện Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành, do đó, Bộ Tài chính sẽ không ban hành Thông tư hướng dẫn. Đối với các vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị định số 15/2022/NĐ-CP, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 15/2022/NĐ-CP về việc trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn, giải quyết.

Quang Minh