Bộ Tài chính phản hồi một số vấn đề dư luận xã hội, báo chí quan tâm

(eFinance Online) - Trong tháng 4/2021, Bộ Tài chính đã nhận được một số câu hỏi từ phóng viên, người dân, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính gồm: thuế, hải quan, chứng khoán, quản lý giá, bảo hiểm, quản lý công sản; để rộng đường dư luận Ban biên tập eFinance.vn đăng tải toàn văn phản hồi của Bộ Tài chính. 
Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Lĩnh vực chính sách, quản lý thuế 

Nội dung 1: Theo Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), muốn giảm giá nhà, Nhà nước cần thay đổi cách thu tiền sử dụng đất dự án nhà ở thương mại, chuyển thành sắc thuế đánh trên hành vi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, phi nông nghiệp thành đất ở, với thuế suất có thể bằng khoảng 15-20% giá đất trong bảng giá đất. Đồng thời, để bù đắp hụt thu ngân sách nhà nước và tạo nguồn thu ổn định, bền vững cho NSNN, cần đánh thuế bất động sản”. Có ý kiến cho rằng, ngoài đóng góp vào ngân sách, chính sách thuế phải đạt được mục tiêu là điều tiết, định hướng tiêu dùng và chống đầu cơ nhưng với cách thu như hiện nay, thuế chuyển nhượng bất động sản (BĐS) chưa đạt được mục tiêu này. Bản chất của thuế chuyển nhượng BĐS là thuế trực thu và phải thu trên “chênh lệch địa tô”, tức lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được. Tuy nhiên, hiện nay cách thu của cơ quan thuế là “khoán thuế”, cứ thu 2% trên giá chuyển nhượng, lãi lỗ gì cũng phải nộp thuế. Cách thu này dễ cho cơ quan thuế nhưng lại làm méo mó chính sách.”

Trả lời: Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí đối với BĐS hiện hành được ban hành khá đầy đủ, bao gồm: Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; Lệ phí trước bạ và các khoản phí, lệ phí liên quan khác (như lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...). Các chính sách thu này đã bao quát đầy đủ quá trình hình thành, sở hữu, sử dụng và chuyển nhượng BĐS, từng bước được hoàn thiện, góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng BĐS tiết kiệm, hiệu quả, từng bước hạn chế đầu cơ bất động sản, sử dụng lãng phí đất đai.
Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về BĐS thì việc nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách thuế liên quan là cần thiết. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực có tác động lớn, nhiều nội dung mang tính kỹ thuật đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ, ngành địa phương, vì vậy, cần phải được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành vào thời điểm thích hợp để đảm bảo tính khả thi, tính đồng thuận cao, góp phần hạn chế đầu cơ bất động sản. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đang tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế, xác định những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thi hành các luật thuế liên quan đến bất động sản để báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội vào thời điểm thích hợp gắn với việc xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030.
Có ý kiến cho rằng: “ Ngoài đóng góp vào ngân sách, chính sách thuế phải đạt được mục tiêu là điều tiết, định hướng tiêu dùng và chống đầu cơ nhưng với cách thu như hiện nay, thuế chuyển nhượng BĐS chưa đạt được mục tiêu này. Bản chất của thuế chuyển nhượng BĐS là thuế trực thu và phải thu trên “chênh lệch địa tô”, tức lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được. Tuy nhiên, hiện nay cách thu của cơ quan thuế là “khoán thuế”, cứ thu 2% trên giá chuyển nhượng, lãi lỗ gì cũng phải nộp thuế. Cách thu này dễ cho cơ quan thuế nhưng lại làm méo mó chính sách.”
Trước đây, Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 quy định cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản nộp thuế theo mức thuế suất 25% trên thu nhập (giá chuyển nhượng trừ giá mua và  các chi phí liên quan). Trường hợp không xác định được giá mua và các chi phí liên quan thì nộp thuế theo thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng. Thực tế thực hiện đã gặp rất nhiều vướng mắc như không có căn cứ để xác định giá mua và các chi phí liên quan của hoạt động chuyển nhượng BĐS, đặc biệt là đối với BĐS hình thành từ lâu không có hồ sơ, căn cứ chứng minh giá vốn, BĐS được cho, tặng, thừa kế; việc chuyển nhượng giữa các cá nhân bằng tiền mặt khó kiểm soát; có trường hợp nộp thuế theo thuế suất 2% sau đó khai điều chỉnh lại theo thuế suất 25% để hoàn thuế hoặc cơ quan thuế yêu cầu cá nhân khai lại theo thuế suất 25% để truy thu thuế gây khiếu kiện,...
Từ ngày 01/01/2015, Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các luật về thuế quy định cá nhân chyển nhượng bất động sản nộp thuế 2% trên giá chuyển nhượng BĐS. Việc quy định một phương pháp tính thuế đảm bảo minh bạch về chính sách, tránh vướng mắc trong thực hiện và cải cách thủ tục hành chính. 
Riêng đối với doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng BĐS, việc xác định giá vốn của BĐS theo sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Luật thuế TNDN quy định doanh nghiệp có thu nhập từ chuyển nhượng BĐS nộp thuế theo mức thuế suất 20% trên thu nhập. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng BĐS được xác định bằng doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng BĐS trừ giá vốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng BĐS.

Nội dung 2:  Bộ Tài chính đã trình Chính phủ dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thu phí sử dụng đường bộ cao tốc do Nhà nước đầu tư gồm các đoạn TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương; La Sơn - Túy Loan (Huế); Nội Bài - Nhật Tân (Hà Nội) và 8 đoạn cao tốc Bắc - Nam đang thi công. Liên quan đề xuất này, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Phía người dân thắc mắc, hiện tại doanh nghiệp và người dân lưu hành xe đã phải nộp các khoản phí bảo trì đường bộ, thuế bảo vệ môi trường qua xăng dầu. Liệu việc thu phí này có đảm bảo hài hòa lợi ích?

Trả lời: Điểm 1.1 Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí đã quy định “Phí sử dụng đường bộ” (trong đó có đường cao tốc) là phí thuộc lĩnh vực giao thông vận tải. 
Hiện nay, số thu từ phí sử dụng đường bộ (theo đầu phương tiện) rất thấp, chỉ đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu tối thiểu cho hoạt động bảo trì đường bộ, do đó dẫn đến tình trạng chất lượng đường xuống cấp nhanh chóng, ảnh hưởng đến hoạt động đi lại của người dân và gây mất an toàn cho người tham gia giao thông (hàng năm, ngân sách nhà nước còn phải cấp bổ sung từ 3.000 – 4.000 tỷ đồng cho công tác bảo trì hệ thống đường bộ do Nhà nước quản lý). Vì vậy, cũng cần phải nghiên cứu để có các cơ chế phù hợp nhằm bổ sung nguồn thu để đáp ứng nhu cầu bảo trì đường bộ, phát triển hệ thống đường cao tốc.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm huy động, khơi thông nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng, cụ thể:
+ Tại Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đã nêu: Sửa đổi, bổ sung các quy định về chính sách hỗ trợ tài chính, thuế, giá, phí, lệ phí, nhượng quyền… để tăng tính thương mại của dự án và sự đóng góp của người sử dụng. 
+ Tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017 của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam, phía Đông giai đoạn 2017-2020, đã giao Chính phủ: Đối với những dự án thành phần sử dụng toàn bộ vốn đầu tư công, nghiên cứu, áp dụng phương án thu giá dịch vụ hợp lý để thu hồi vốn đầu tư của Nhà nước.
+ Tại Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 01/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu: Huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc dưới nhiều hình thức.
Căn cứ các quy định nêu trên, việc đề xuất thu phí sử dụng đường bộ cao tốc để huy động nguồn lực của xã hội nhằm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, toàn diện là cần thiết và có cơ sở pháp lý. Qua đó, tạo thêm nguồn lực cho nhà nước tiếp tục đầu tư các dự án đường cao tốc theo mục tiêu đề ra, đảm bảo nguyên tắc bù đắp các chi phí cần thiết như trả nợ vốn vay, duy tu, bảo dưỡng.
Ngày 30/3/2021, Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 67/TB-VPCP về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về dự thảo Nghị quyết của UBTVQH quy định phí dịch vụ sử dụng đường cao tốc thông qua trạm thu phí trên đường cao tốc do Nhà nước đầu tư, theo đó giao: Bộ GTVT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu đề xuất về cơ chế thu phí, hoàn thiện Dự án Luật Giao thông đường bộ (trong đó có nội dung về cơ chế thu phí dịch vụ sử dụng đường cao tốc thông qua trạm thu phí trên đường cao tốc do Nhà nước đầu tư), đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đang nghiên cứu và phối hợp với Bộ GTVT để đề xuất cơ chế thu phí dịch vụ sử dụng đường cao tốc vào dự thảo Luật Giao thông đường bộ.

Nội dung 3:  Báo chí phản ánh tình trạng một số cá nhân có đơn cầu cứu cơ quan chức năng khi phát hiện mình “bỗng dưng trở thành giám đốc công ty ma, nợ thuế cả tỷ đồng”. Đơn cử, trường hợp anh N.V.T (29 tuổi, quê Quảng Bình, tạm trú Bà Rịa - Vũng Tàu) bỗng dưng thành giám đốc Công ty Mai Hương và Chi cục Thuế khu vực Q.7 - H.Nhà Bè là đơn vị đăng ký nộp thuế của công ty này. Đáng chú ý, ở mục ghi chú có nội dung công ty này “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Ý kiến của Tổng cục Thuế về vấn đề này?

Trả lời: Việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện. 
- Ngày 21/02/2017, theo dữ liệu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh truyền về hệ thống quản lý thuế TMS, Công ty TNHH MTV DV TM Vận tải Mai Hương có đăng ký thay đổi thông tin người đại diện pháp luật từ bà Nguyễn Thị Hương, CMND số 024863103 cấp ngày 06/12/2007 tại Công an TP.HCM sang ông Nguyễn Văn Thức, CMND số 194485990 cấp ngày 12/03/2009 tại Công an Quảng Bình.
- Về công tác quản lý thuế:
Ngày 07/06/2017, Chi cục Thuế khu vực Quận 7 – huyện Nhà Bè đã ban hành thông tin về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đối với Công ty Mai Hương đồng thời gửi thông tin đến Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự quản lý kinh tế và Chức vụ Công an quận 7.
Hiện tại Công ty Mai Hương còn nợ tiền thuế: 1.520.801.818 đồng (Khoản nợ trên phát sinh từ lúc bà Nguyễn Thị Hương còn làm đại diện pháp luật). Chi cục Thuế khu vực Quận 7 – huyện Nhà Bè đã tiến hành cưỡng chế nợ thuế bằng biện pháp đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Ngày 07/04/2021, Chi cục Thuế khu vực Quận 7 – huyện Nhà Bè đã làm việc với cán bộ phòng an ninh kinh tế Công an TP Hồ Chí Minh liên quan đến việc đăng ký và kê khai thuế của Công ty Mai Hương. Đồng thời liên lạc với ông Nguyễn Văn Thức qua điện thoại nhưng chưa xác định được ngày làm việc trực tiếp. Chi cục Thuế cũng đã tiến hành ban hành thư mời đối với ông Nguyễn Văn Thức làm việc về nội dung liên quan đến Công ty Mai Hương.

Nội dung 4: Có ý kiến cho rằng, lẽ ra trong thời gian chờ Thông tư mới được ban hành, Tổng cục Thuế nên hướng dẫn doanh nghiệp cũng như các cơ quan thuế địa phương rằng Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 126/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế vẫn tiếp tục được áp dụng Thông tư 156 và các thông tư sửa đổi bổ sung thông tư này nếu những quy phạm ấy còn phù hợp hoặc không trái với luật. 

Trả lời: Thời gian qua, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) có nhận được ý kiến phản ánh vướng mắc của các Cục Thuế về việc người nộp thuế và cơ quan thuế về việc có được tiếp tục thực hiện quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP (sau đây gọi là Thông tư số 156/2013/TT-BTC) và các Thông tư có liên quan khác. 
Để tháo gỡ vướng mắc cho các đơn vị trong quá trình thực hiện, Bộ Tài chính đã ký ban hành công văn số 1938/BTC-TCT gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, căn cứ các quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, trong thời gian Thông tư chưa ban hành và chưa phát sinh hiệu lực, Bộ Tài chính có ý kiến:
“1. các Thông tư sau đây không phải là văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế. Do vậy, không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:
- Thông tư 156/2013/TT-BTC…”
Như vậy, việc ban hành Công văn số 1938/BTC-TCT là không trái với các quy định của pháp luật hiện hành, việc quy định điều khoản về các Thông tư không phải văn bản quy pháp pháp luật (Trong đó có Thông tư 156) chỉ để hướng dẫn rõ hơn tránh gây hiểu lầm, vướng mắc trong triển khai thực hiện.

Nội dung 5: Báo chí phản ánh việc cầu thủ đội tuyển nữ U14, 16VN bất ngờ phải đóng thuế thu nhập cá nhân mặc dù mức thu nhập của VĐV chưa đến mức phải đóng thuế TNCN nhưng vẫn phải đóng và không được hoàn loại chỉ vì các VĐV còn quá nhỏ. 

Trả lời: Căn cứ quy định hiện hành, tất cả các cá nhân có phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân thì phải đăng ký mã số thuế cá nhân và khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. 
+ Trường hợp cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tạm khấu trừ thuế khi trả thu nhập theo Biểu thuế lũy tiến từng phần sau khi đã tính trừ các khoản giảm trừ theo quy định;
+ Trường hợp cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tạm khấu trừ thuế tạm khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân. Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Kết thúc năm tính thuế, cá nhân người nộp thuế sẽ được xác định lại số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của năm tính thuế. 
+ Trường hợp cá nhân người nộp thuế có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã được khấu trừ trong năm tính thuế, cá nhân sẽ phải nộp thêm số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước. 
+ Trường hợp cá nhân người nộp thuế có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã được khấu trừ trong năm tính thuế, cá nhân người nộp thuế sẽ được hoàn thuế thu nhập cá nhân nếu đã có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế. Trường hợp cá nhân có phát sinh hoàn thuế thu nhập cá nhân nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định thì không áp dụng phạt đối với vi phạm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn. Theo đó, trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân chưa nộp tờ khai quyết toán thuế để đề nghị hoàn thuế thì cá nhân người nộp thuế có thể nộp nộp tờ khai quyết toán thuế để đề nghị hoàn thuế bất kỳ thời điểm nào mà không bị xử lý vi phạm hành chính về thuế. 

Nội dung 6: Dự thảo Thông tư về hướng dẫn thuế và quản lý thuế với hộ kinh doanh đã thay thế đối tượng áp dụng và chịu thuế là hộ kinh doanh thay vì hộ gia đình. Có ý kiến cho rằng, thay vì phải gọi tên cả cá nhân, nhóm và hộ kinh doanh (hàm ý là hộ kinh doanh giữa các thành viên của hộ gia đình) như hiện nay, Bộ Tài chính có thể chỉ cần xây dựng quy chế quản lý thuế cho hộ kinh doanh nói chung…

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) có ý kiến như sau:
- “hộ kinh doanh không phải ... hộ gia đình”
Theo quy định về đăng ký kinh doanh thì có quy định về khái niệm “hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập”. Tuy nhiên,  theo quy định của pháp luật thuế thì bất kỳ cá nhân, hộ gia đình nào có hoạt động kinh doanh cũng phát sinh nghĩa vụ thuế (trừ thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác), không phân biệt có đăng ký kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, các hoạt động kinh doanh của cá nhân không chỉ là mô hình hộ gia đình hoạt động độc lập trong phạm vi hẹp tại nơi sinh sống mà đã phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: hợp tác kinh doanh với tổ chức, tham gia trong chuỗi kinh tế chia sẻ, kinh doanh trên môi trường số, phạm vi hoạt động xuyên biên giới, không có địa điểm kinh doanh cố định (địa điểm vật lý). Do đó, để bao quát các đối tượng có hoạt động kinh doanh thuộc diện chịu thuế thì tại dự thảo Thông tư mới quy định phạm vi áp dụng đối với “hộ kinh doanh” và “cá nhân kinh doanh” là phù hợp. Ngoài ra, đối với pháp luật thuế điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh của thể nhân thì chỉ bao gồm hai sắc thuế chính là thuế GTGT và thuế TNCN, còn đối với hộ gia đình nếu không có hoạt động sản xuất kinh doanh thì chỉ có thể thuộc diện chịu thuế sửa dụng đất phi nông nghiệp. Do đó, tại dự thảo Thông tư mới không dùng khái niệm “hộ gia đình” vì phạm vi của Thông tư chỉ điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh.
- “kỳ vọng về một chính sách thuế bình đẳng”
Theo pháp luật về thuế TNCN thì có 10 khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế với các mức thuế suất và cách tính thuế khác nhau, trong đó, duy nhất thu nhập từ tiền lương tiền công áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần (các mức thuế từ 5% - 35%), còn các khoản thu nhập khác áp dụng theo thuế suất toàn phần. Đối với hoạt động kinh doanh áp dụng theo biểu thuế toàn phần chi tiết theo từng lĩnh vực ngành nghề, trong đó ngành nghề kinh doanh cung cấp dịch vụ (bao gồm cả cung cấp dịch vụ nội dung thông tin số) chịu thuế suất thuế GTGT 5%, thuế TNCN 2% (tổng hai loại thuế là 7%). Nếu so sánh mức thuế của cá nhân kinh doanh (7%) với mức thuế bậc cao nhất của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công (35%) là không phù hợp, bởi vì khoảng 90% cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công chỉ ở mức bậc 1 và bậc 2 (5% -10%). Ngoài ra,  mức thuế suất toàn phần đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân cần phải tương đồng với  mức thuế suất của doanh nghiệp có cùng loại hình kinh doanh là phù hợp, không thể so sánh với thu nhập từ tiền lương, tiền công để áp dụng biểu luỹ tiến. Quy định này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế về thuế TNCN.

Lĩnh vực hải quan

Nội dung 7:  Các báo phản ánh liên quan đến vụ án buôn lậu thuốc bắc xảy ra tại Cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn trong đó có một số cán bộ, công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu Chi Ma (Lạng Sơn).  

Trả lời: Liên quan đến vụ việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra (C03) Bộ Công an bắt giữ lô hàng dược liệu của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Ninh Hiệp buôn lậu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn. Ngày 04/12/2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an đã khởi tố vụ án “Buôn lậu, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hà Nội và một số tỉnh, thành” và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với ông Chu Bá Toàn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn và ông Hoàng Thanh Sơn, công chức Chi cục Hải quan Cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. 
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã chỉ đạo Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn rà soát, xem xét xử lý đối với các tập thể, cá nhân có trách nhiệm liên quan, cụ thể như sau:
- Đã tạm đình chỉ công tác đối với ông Chu Bá Toàn và ông Hoàng Thanh Sơn theo thẩm quyền để phục vụ công tác điều tra. Đồng thời, Đảng ủy Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên Chu Bá Toàn.
- Hiện nay, ông Chu Bá Toàn và ông Hoàng Thanh Sơn đang được tại ngoại và chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của cơ quan chức năng. Cơ quan cảnh sát điều tra giao chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, theo dõi bị can đến hết ngày 10/4/2021.
- Đối với người đứng đầu đơn vị có liên quan:
+ Về chính quyền: 
Kỷ luật “Cảnh cáo” đối với ông Hoàng Văn Quân, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Cửa khẩu Chi Ma; kỷ luật “Khiển trách” đối với ông Hà Tuấn Tích, Đội trưởng và ông Vũ Đắc Nghĩa, Phó Đội trưởng Đội Nghiệp vụ - Chi cục Hải quan Cửa khẩu Chi Ma do liên quan trách nhiệm khi để vụ việc sai phạm xảy ra trong đơn vị, lĩnh vực do mình trực tiếp quản lý, phụ trách.
+ Về kỷ luật Đảng:
(1) Thi hành kỷ luật Cảnh cáo đối với đ/c Hoàng Văn Quân theo Quyết định số 39-QĐ/ĐU ngày 21/12/2020.
(2) Thi hành kỷ luật Khiển trách đối với đảng viên Hà Tuấn Tích và Vũ Đắc Nghĩa (Quyết định số 29-QĐ/CB ngày 26/11/2020 và Quyết định số 30-QĐ/CB ngày 26/11/2020).
Hiện nay, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đang chờ kết quả điều tra, xét xử để xem xét, xử lý kỷ luật tiếp đối với các tập thể, cá nhân liên quan.
Về thông tin phản ánh việc đưa nhận tiền cho công chức hải quan, qua nghiên cứu nội dung thông tin phản ánh thì trong quá trình điều tra vụ án trên, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an đã phát hiện có dấu hiệu các đối tượng buôn lậu đã đưa tiền cho một số công chức hải quan nhưng vì thời hạn điều tra đã hết và để khách quan, thận trọng, không bỏ lọt tội phạm nên cần điều tra, xử lý riêng theo quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến sự việc để báo cáo, đề xuất xử lý đối với các tập thể, cá nhân vi phạm (nếu có).

Nội dung 8: Báo chí phản ánh về việc triển khai Hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử (gọi tắt là hệ thống MGH) còn nhiều bất cập. 

Trả lời: Thực hiện mục tiêu hiện đại hóa hải quan và tạo thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan đã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án xây dựng, triển khai Hệ thống miễn, giảm, hoàn điện tử (Hệ thống) để thực hiện thống nhất.
Sau thời gian chuẩn bị, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải) quan đã chính thức triển khai trên phạm vi toàn quốc Hệ thống miễn, giảm, hoàn điện tử nêu trên kể từ ngày 23/11/2020 (Công văn số 7373/TCHQ-TXNK ngày 19/11/2020 của Tổng cục Hải quan về việc chỉ đạo các Cục Hải quan tỉnh, thành phố triển khai).
Đồng thời, để việc triển khai Hệ thống có hiệu quả và kịp thời xử lý vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện trên Hệ thống, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải) đã ban hành:
- Quyết định số 3204/QĐ-TCHQ ngày 18/11/2020 để thành lập Tổ triển khai Đề án “Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử”. Thành phần tham gia có Lãnh đạo, cán bộ công chức tham gia xây dựng Hệ thống của Cục Thuế xuất nhập khẩu, Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan và Lãnh đạo, công chức tại tất cả các Cục Hải quan tỉnh, thành phố.
- Quyết định số 3205/QĐ-TCHQ ngày 18/11/2020 về việc thành lập Tổ hỗ trợ triển khai Hệ thống miễn, giảm, hoàn. Thành phần tham gia có Lãnh đạo, cán bộ công chức tham gia xây dựng Hệ thống của Cục Thuế xuất nhập khẩu, Cục Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan và Nhà thầu xây dựng phần mềm Hệ thống.
Trong quá trình triển khai Hệ thống từ cuối tháng 11/2020 đến nay, Tổ hỗ trợ đã nhận được nhiều ý kiến phản ánh vướng mắc, kiến nghị của Hải quan các tỉnh thành phố (qua điện thoại, zalo, văn bản) và đã được Tổ hỗ trợ kịp thời hướng dẫn xử lý một số vướng mắc, kiến nghị. Số vướng mắc, kiến nghị còn lại tương đối phức tạp, có tác động trên phạm vi rộng, Tổ hỗ trợ tiếp tục phối hợp, nghiên cứu để có đề xuất hướng dẫn thực hiện xử lý chung toàn Ngành. Tuy nhiên, cũng như các Hệ thống điện tử khác thì việc Hệ thống khi triển khai thực tế sẽ không tránh khỏi có vướng mắc phát sinh và cần có thời gian nghiên cứu để xử lý, hoàn thiện.     
Qua theo dõi, nắm bắt tình hình triển khai Hệ thống nhận thấy tình trạng có hiện tượng tại một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố chưa áp dụng Hệ thống đối với một số nghiệp vụ miễn, giảm, hoàn,… thường ở các Chi cục Hải quan có hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra với tần suất cao, khối lượng công việc nhiều và còn có một số doanh nghiệp “chưa quen”, còn “ngại”với việc xử lý miễn, giảm, hoàn trên Hệ thống của cơ quan Hải quan.
Tiếp thu ý kiến phản ánh và đề xuất của Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan)  đã chỉ đạo các bộ phận liên quan triển khai việc rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Hệ thống trên toàn quốc thời gian qua để xử lý ngay các vướng mắc, kiến nghị của hải quan địa phương, đảm bảo việc thực hiện áp dụng Hệ thống trong toàn Ngành thống nhất, phát huy hết tính ưu việt và hiệu quả của Hệ thống, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trường hợp Hệ thống gặp sự cố theo quy định của pháp luật thì cơ quan Hải quan sẽ chuyển sang tiếp nhận và xử lý hồ sơ giấy. 
Mặt khác, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải) đã có Kế hoạch triển khai tái thiết kế tổng thể Hệ thống công nghệ thông tin để khắc phục hạn chế của các hệ thống vệ tinh hiện nay (trong đó có hệ thống Miễn, giảm, hoàn điện tử). 

Lĩnh vực chứng khoán

Nội dung 9:  Báo chí phản ánh tình trạng các công ty chứng khoán “biến tướng” huy động vốn, vi phạm nghiêm trọng các quy định của nhà nước, dưới các hình thức hợp tác đầu tư, tiết kiệm tiền gửi,…. Nhiều chuyên gia cho rằng, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải thanh kiểm tra và yêu cầu các công ty chứng khoán chấm dứt ngay dịch vụ này để tránh rủi ro phát sinh.

Trả lời: Đối với các vấn đề phản ánh về các dịch vụ huy động vốn, tiết kiệm tiền gửi theo phản ánh của một số báo chí, Bộ Tài chính (UBCKNN) đã có văn bản yêu cầu Công ty chứng khoán MB, Công ty chứng khoán VNDirect báo cáo, giải trình về nội dung phản ánh của báo chí nói trên và đã có văn bản yêu cầu Công ty chứng khoán MB dừng thực hiện dịch vụ. 
Đối với Công ty chứng khoán VNDirect, Bộ Tài chính (UBCKNN) sẽ có xử lý tương tự sau khi nhận được ý kiến giải trình của Công ty và tổ chức kiểm tra hoạt động một số công ty chứng khoán. 

Nội dung 10: Có ý kiến cho rằng, việc HoSE gửi công văn đến công ty chứng khoán về việc nâng lô giao dịch khá gấp nên thông tin đến nhà đầu tư có phần cập rập, nhiều người không kịp bán lô lẻ (1-99 cổ phiếu). Nhiều công ty chứng khoán phản ánh tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ khi phải đứng ra giải cứu. Một số nhà đầu tư cho rằng, việc đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý lệnh là của cơ quan quản lý. Tất cả các giao dịch dù lớn hay nhỏ đều thu phí của khách hàng trên phần trăm giá trị giao dịch. Tại sao lại lấy lý do nghẽn lệnh mà bắt khách hàng phải có trách nhiệm giải quyết tình trạng nghẽn lệnh này bằng cách nâng số cổ phiếu được phép giao dịch lên 100 cổ phiếu/lần? 
Ở góc độ khác, nhiều nhà đầu tư vẫn lo việc ông Lê Hải Trà, Tổng Giám đốc HoSE lại mới giải thích với giới truyền thông rằng nếu nâng lô tối thiểu lên 1000 áp dụng với các cổ phiếu có thị giá dưới 30.000 đồng sẽ giúp giảm hơn 20% số lượng lệnh hiện nay, từ đó góp phần giảm tắc nghẽn cho HoSE. Trước đó, giải pháp tăng lô lên 1000 bị Bộ Tài chính bác bỏ. Trong khi đó, theo TS. Hồ Quốc Tuấn, giảng viên Đại học Bristol, Anh, xu thế chung của thị trường chứng khoán thế giới là giảm lô giao dịch tối thiểu về 1 cổ phiếu hoặc thấp hơn.

Trả lời: Nguyên nhân chính dẫn đến sự quá tải và nghẽn lệnh trong thời gian vừa qua là do thanh khoản thị trường tăng trưởng quá nhanh trong khi năng lực xử lý của hệ thống giao dịch hiện tại có giới hạn.
Bộ Tài chính (UBCKNN) nhận định việc thay thế sang hệ thống giao dịch mới để đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng của thị trường là nhu cầu cấp thiết nên đã yêu cầu SGDCK Tp.HCM và các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa hệ thống công nghệ thông tin thị trường chứng khoán mới (dự án KRX) vào hoạt động. Theo kế hoạch, dự án này đã có thể hoàn thành trong năm 2020. Tuy nhiên, do dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến việc chuyên gia nước ngoài có mặt đầy đủ đúng thời hạn triển khai công việc nên tiến độ dự án bị kéo dài. Trong thời gian chờ hệ thống mới, Bộ Tài chính đã quyết định lựa chọn phương án thuê dịch vụ công nghệ thông tin do Tập đoàn FPT cung cấp; phương án này hiện đang được gấp rút triển khai, khi hoàn thành sẽ giải quyết được triệt để tình trạng nghẽn lệnh.
Giải pháp nâng lô giao dịch lên 100 cổ phiếu là giải pháp tạm thời để giải quyết sự cố, giảm thiểu tình trạng nghẽn lệnh và hạn chế thiệt hại cho đại đa số nhà đầu tư trên thị trường, có lợi cho tổng thể thị trường. Nhà đầu tư có thể thỏa thuận với các công ty chứng khoán để bán các cố phiếu lô lẻ (nếu có). Hiện nay, Bộ Tài chính (UBCKNN) chưa có phương án tiếp tục nâng lô giao dịch. 
Sau khi phương án thuê dịch vụ công nghệ thông tin hoàn tất và đi vào hoạt động, Bộ Tài chính (UBCKNN) sẽ sớm khôi phục môi trường đầu tư, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các nhà đầu tư và thành viên thị trường. Rất mong nhận được sự ủng hộ và cùng chung tay của các doanh nghiệp và nhà đầu tư để thị trường sớm vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại, hướng tới một thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững trong thời gian tới.

Lĩnh vực bảo hiểm

Nội dung 11:  Báo chí phản ánh tình trạng một số ngân hàng, tổ chức tín dụng có biểu hiện “ép” khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn. Ý kiến Bộ Tài chính về vấn đề này?

Trả lời: 1. Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đã quy định các nguyên tắc, quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong kinh doanh và khai thác bảo hiểm nhằm đảm bảo việc tham gia bảo hiểm là tự nguyện, trên cơ sở nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng, không quy định cụ thể hoặc giới hạn về các sản phẩm bảo hiểm bán qua ngân hàng. Các hợp đồng đại lý bảo hiểm ký với ngân hàng cũng không yêu cầu sản phẩm bảo hiểm phải được bán kèm hay gắn với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm với ngân hàng và phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và quy định pháp luật khác có liên quan. Các doanh nghiệp bảo hiểm ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm với các ngân hàng. Việc quản lý, giám sát đối với nhân viên ngân hàng trực tiếp bán bảo hiểm đảm bảo tuân thủ các quy định theo hợp đồng đại lý bảo hiểm thuộc thẩm quyền của các ngân hàng.
2. Ngay sau khi nhận được thông tin phản ánh của một số cơ quan thông tấn báo chí về tình trạng một số ngân hàng, tổ chức tín dụng có biểu hiện “ép” khách hàng mua bảo hiểm khi vay vốn, Bộ Tài chính đã có công văn số 14097/BTC-QLBH ngày 17/11/2020 yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm rà soát, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm của các ngân hàng, phối hợp với các ngân hàng kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp ép buộc khách hàng mua bảo hiểm nếu có, thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao tỷ lệ duy trì hợp đồng bảo hiểm. 
Trong thời gian tới, để kênh phân phối này vừa mang lại hiệu quả cao, vừa an toàn và không ảnh hưởng tới quyền lợi người mua bảo hiểm, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách; tăng cường quản lý, giám sát hoạt động bán bảo hiểm của các đại lý là tổ chức tín dụng. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm với các tổ chức tín dụng, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng đào tạo nhân viên của tổ chức tín dụng tham gia bán bảo hiểm, có các biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời trường hợp có vi phạm. 

Lĩnh vực công sản

Nội dung 12: Talkshow của Đài Truyền hình Việt Nam phản ánh những khó khăn về cơ chế tài chính, đặc biệt là phần thu thuế tiền sử dụng đất dành cho nghiên cứu khoa học đối với Trung tâm hội thảo khoa học quốc tế ICISE của giáo sư Trần Thanh Vân tại Phú Yên, Bình Định. Dù khi hình thành đã được tạo điều kiện thuận lợi, nhưng đến nay mô hình này mới được miễn thuế tiền sử dụng đất đến hết năm 2020, trong khi đó từ năm 2021 trở về sau chưa biết cơ chế nào sẽ dành cho trung tâm. 

Trả lời: Liên quan đến việc miễn tiền thuê đất đối với Dự án Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành, Bộ Tài chính đã có các Công văn: Số 11625/BTC-QLCS ngày 23/9/2020 và số 778/BTC-QLCS ngày 22/01/2021 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về đề xuất của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định; theo đó, Bộ Tài chính đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho Trung tâm được miễn tiền thuê đất từ năm 2011 đến hết năm 2020, đồng thời cho phép không tính tiền chậm nộp tương ứng với số tiền thuê đất được miễn.
Ngày 7/4/2021, Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo tại Công văn số 457/TTg-NN như sau:
"Đồng ý việc miễn tiền thuê đất cho Dự án Trung tâm Quốc tế Khoa học dục và Giáo liên ngành từ năm 2011 đến hết năm 2020, đồng thời, không tính tiền chậm nộp tương ứng với số tiền thuê đất được miễn như đề xuất của Bộ Tài chính tại Công văn số 11625/BTC-QLCS ngày 23/9/2020. Bộ Tài chính hướng dẫn UBND tỉnh Bình Định và các cơ quan liên quan thực hiện cụ thể".
Như vậy, đối với Dự án Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho miễn tiền thuê đất từ năm 2011 đến hết năm 2020. Sau năm 2020, Trung tâm phải có trách nhiệm có phương án sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về đất đai.
Việc Bộ Tài chính đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ miễn cho thời gian 02 kỳ ổn định (10 năm) mà không phải cho cả thời gian thuê như đề nghị của UBND tỉnh Bình Định với lý do: Theo Bộ Khoa học và Công nghệ thì doanh nghiệp này không đủ điều kiện để áp dụng Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ như các doanh nghiệp khoa học và công nghệ khác (tức là không đủ điều kiện để được miễn tiền thuê đất đối với một số loại diện tích đất theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 19 Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước). Việc UBND tỉnh Bình Định đề nghị được miễn toàn bộ thời gian của Dự án cho toàn bộ diện tích 167.661,5 m2 là chưa phù hợp (cao hơn cả chế độ miễn áp dụng cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định số 13/2019/NĐ-CP). 
Về việc quản lý, sử dụng đất của Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành: Bộ Tài chính thấy rằng phần diện tích (167.661,5 m2) mà Công ty Quốc tế Khoa học và giáo dục liên ngành sử dụng cho mục đích hội nghị, hội thảo khoa học là quá lớn, chiếm khoảng 80% diện tích trong 211.155,2 m2 đất của Dự án Trung tâm Quốc tế Khoa học và giáo dục liên ngành; đồng thời, tiền thuê đất vượt quá khả năng chi trả của đơn vị, dẫn đến khó khăn trong thực hiện nghĩa vụ tài chính. Do đó, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát lại nhu cầu cần thiết sử dụng đất của Dự án, năng lực của chủ đầu tư Dự án để đảm bảo việc giao đất, cho thuê đất đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.

Lĩnh vực quản lý giá

Nội dung 13: Liên quan đến đề xuất của Vietnam Airline về tăng giá trần và áp giá sàn vé máy bay, nhiều ý kiến của các doanh nghiệp cho rằng nên để khách hàng và thị trường quyết định. Một số chuyên gia cho rằng, việc xem xét điều chỉnh giá trần để phù hợp với đầu vào, cơ quan chức năng cần xem xét. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) cần ngồi lại để cân nhắc. Trong bối cảnh hiện nay có thể điều chỉnh tăng là hợp lý nhưng cần phải xem xét hết sức thận trọng. Quan điểm của Bộ Tài chính về vấn đề này? 

Trả lời: Về thẩm quyền quy định khung giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa: Theo quy định tại khoản 27 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014: “Hãng hàng không quyết định giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa trong khung giá do Bộ Giao thông vận tải quy định và thực hiện kê khai giá với Bộ Giao thông vận tải”. 
Theo đó, việc xem xét điều chỉnh khung giá (bao gồm giá trần và giá sàn) dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông vận tải.
- Về nguyên tắc định giá nhà nước, được quy định tại Điều 20 Luật giá: “1. Bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. 2. Kịp thời điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi. 
Qua phản ánh báo chí, đây mới chỉ là phương án đề xuất của Vietnam Airlines. Việc xem xét điều chỉnh mức trần khung giá vé máy bay, cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải xem xét thận trọng trên nguyên tắc công khai, minh bạch và rà soát từng yếu tố chi phí hợp lý, hợp lệ cấu thành giá vé máy bay theo quy định của pháp luật, đồng thời, tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh thích hợp (nếu có), đảm bảo phù hợp chủ trương ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát bình quân; hài hòa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Ban Biên tập