Bộ Tài chính phản hồi một số vấn đề dư luận xã hội, báo chí quan tâm

(eFinance Online) - Trong tháng 7/2021, Bộ Tài chính đã nhận được một số câu hỏi từ phóng viên, người dân, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính gồm: chính sách quản lý thuế, chứng khoán, quản lý công sản, tài chính ngân hàng; để rộng đường dư luận Ban biên tập eFinance.vn đăng tải toàn văn phản hồi của Bộ Tài chính.
Bộ Tài chính cho biết lũy kế đến ngày 6/8//2021, tổng số thuế, tiền thuê đất được gia hạn 67.194 tỷ đồng. Ảnh minh họa - nguồn: internet. Bộ Tài chính cho biết lũy kế đến ngày 6/8//2021, tổng số thuế, tiền thuê đất được gia hạn 67.194 tỷ đồng. Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Chính sách quản lý thuế

Nội dung 1: Cập nhật tình hình gia hạn tiền thuế, tiền thuê đất

Trả lời: Căn cứ trên số liệu hệ thống TMS, kết quả thực hiện gia hạn theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP của Chính phủ lũy kế đến ngày 6/8//2021 như sau: Tổng số đơn đề nghị gia hạn 137.118; trong đó doanh nghiệp, tổ chức 118.143, cá nhân 18.975. Tổng số thuế, tiền thuê đất được gia hạn 67.194 tỷ đồng. Trong đó, thuế GTGT tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6, quý 1, quý 2/2021 của doanh nghiệp, tổ chức: 35.741 tỷ đồng, trong đó, tháng 3 là 7.458 tỷ đồng, tháng 4 là 6.992 tỷ đồng, tháng 5 là 6.123 tỷ đồng, tháng 6 là 7.084 tỷ đồng, quý 1 là 3.890 tỷ đồng, quý 2 là 4.191 tỷ đồng. Tạm nộp thuế TNDN Quý 1/2021 của doanh nghiệp, tổ chức được ước tạm tính bằng 20% số thuế TNDN phát sinh phải nộp theo quyết toán thuế TNDN năm 2020 và bằng 29.346 tỷ đồng. Thuế GTGT, TNCN của hộ, cá nhân kinh doanh được gia hạn: 261tỷ đồng. Tiền thuê đất: 1.844 tỷ đồng.

Nội dung 2: Cập nhật tình hình triển khai triển khai lộ trình kết nối thông tin giữa cơ quan thuế với các sàn giao dịch TMĐT

Trả lời:

Để đảm bảo việc triển khai hướng dẫn Thông tư số 40/2021/TT-BTC phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và các Sàn giao dịch thương mại điện tử (Sàn TMĐT), Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) đã có văn bản gửi Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, đề nghị Hiệp hội tổ chức lấy ý kiến các Sàn TMĐT, tổng hợp ý kiến tham gia. Trong trường hợp có ý kiến khác về lộ trình dự kiến, đề nghị Hiệp hội có đề xuất cụ thể và gửi Tổng cục Thuế (Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, cá nhân) chậm nhất trước ngày 27/7/2021. Theo đó, Tổng cục Thuế đưa ra dự kiến 4 bước trong triển khai thực hiện.

Nội dung 3: Bộ Tài chính vừa hoàn thành nghiên cứu dự thảo sửa đổi mức thuế xuất khẩu, mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng tăng giá mạnh thời gian qua để góp phần phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp theo yêu cầu của Chính phủ. Trong đó, Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu phôi thép và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép xây dựng.

Trả lời: Ngày 8/6/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 58/NQ-CP về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2021, trong đó, giao: “Bộ Tài chính và Bộ Công Thương nghiên cứu, rà soát, chuẩn bị phương án phù hợp về thuế nhập khẩu, các biện pháp phòng vệ thương mại theo quy định đối với một số mặt hàng, nguyên vật liệu tăng giá mạnh; xác định rõ nguyên nhân và dự báo xu hướng giá trong thời gian tới, đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp;...”

Ngày 29/6/2021, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 63/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022, trong đó, tại điểm đ, Mục 6 đã giao: “Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh giảm thuế MFN ở mức độ phù hợp đối với một số mặt hàng nhập khẩu có thuế MFN chênh lệch lớn so với mức thuế theo các FTA, đặc biệt là những mặt hàng trong nước không có hoặc ít có nhu cầu bảo hộ để tạo môi trường cạnh tranh; điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng, nguyên vật liệu, góp phần ổn định mặt bằng giá cả trong nước.

Thực hiện Nghị quyết số 58/NQ-CP và Nghị quyết số 63/NQ-CP nêu trên, Bộ Tài chính đã dự thảo dự án Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2020/NĐ-CP ngày 25/5/2020 của Chính phủ. Ngày 13/7/2021, Bộ Tài chính đã có công văn số 7672/BTC-CST gửi xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội về dự thảo Nghị định này. Trong đó, trên cơ sở phân tích hiện trạng ngành thép trong nước hiện nay cũng như diễn biến của thị trường thép thời gian qua và dự báo cho thời gian tới, Bộ Tài chính đã đề xuất tăng thuế xuất khẩu mặt hàng phôi thép nhằm góp phần ổn định nguồn cung phôi thép cho thị trường trong nước, hạn chế việc xuất khẩu phôi thép để giữ lại cho sản xuất trong nước, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thép trong dài hạn; đồng thời, Bộ Tài chính đề nghị giảm thuế nhập khẩu một số mã hàng thép xây dựng đang có mức thuế suất thuế nhập khẩu cao (15%, 20%, 25%) để bình ổn giá cả mặt hàng thép trong nước trong bối cảnh giá thép xây dựng liên tục tăng trong giai đoạn vừa qua, ảnh hưởng đến nhiều ngành sản xuất trong nước.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và Hiệp hội, trên cơ sở đó sẽ có phương án cụ thể  báo cáo Chính phủ về vấn đề này.

Lĩnh vực chứng khoán

Nội dung 4: Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) vừa có báo cáo đánh giá thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2021 - 2023. Trong báo cáo này, VFCA đề xuất nâng biên độ dao động sàn HoSE từ 7% lên thành 10% ngay trong năm nay để đáp ứng sự phát triển mới của thị trường chứng khoán.

Trả lời: Về kiến nghị của VFCA về nâng biên độ dao động giá tại sàn Hose từ 7% lên 10% ngay trong năm nay để đáp ứng sự phát triển mới của thị trường chứng khoán (TTCK), Bộ Tài chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) có ý kiến như sau: Hiện nay, TTCK Việt Nam đang trong giai đoạn có xu hướng đi ngang và giảm, thanh khoản cũng giảm (từ đỉnh với giá trị giao dịch đạt hơn 31 nghìn tỷ xuống còn trung bình 15 – 16 nghìn tỷ/phiên). Tình hình thị trường chứng khoán thế giới cũng đan xen các phiên tăng giảm do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 và TTCK Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này (xu hướng giảm, từ đỉnh hơn 1.400 điểm lùi về xấp xỉ 1.300 điểm).

Theo Thông tư số 120/2020/TT-BTC quy định giao dịch cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán, SGDCK Việt Nam quyết định biên độ dao động giá/cơ chế ngắt mạch thị trường sau khi được UBCKNN chấp thuận. Căn cứ điều kiện thực tiễn của thị trường, UBCKNN quyết định áp dụng cơ chế ngắt mạch thị trường hoặc cơ chế ngắt mạch thị trường kết hợp với biên độ dao động giá.

Quá trình thay đổi biên độ giao động giá trên Hose từ trước đến nay: HoSE đã thực hiện 09 lần thay đổi biên độ dao động giá tính từ năm 2000 đến nay; trong đó có 07 lần điều chỉnh tăng và 02 lần điều chỉnh giảm.

Việc tăng - giảm biên độ dao động giá phụ thuộc vào tình hình và biến động của thị trường. Khi thị trường diễn biến xấu thì điều chỉnh giảm biên độ dao động giá là biện pháp cần thiết nhằm hạn chế đà giảm, ngăn không để thị trường giảm sốc. Khi các yếu tố cơ bản được kiểm soát, thị trường có dấu hiệu ổn định trở lại và nhằm tăng tính hấp dẫn cho TTCK, bắt đầu có sự điều chỉnh tăng nhẹ dần từ mức 2%, rồi 3% sau cùng là tăng lên mức 7% và áp dụng cho đến hiện nay.

Về đề xuất nâng biên độ từ 7% lên 10%: Điều chỉnh biên độ giao động giá là một trong các biện pháp mà cơ quan quản lý sử dụng để kích thích tăng quy mô và thanh khoản cho thị trường, nhằm cân đối cung cầu chứng khoán, tăng tính hấp dẫn cho nhà đầu tư. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ xem xét, cân nhắc việc điều chỉnh biên độ dao động giá khi diễn biến thị trường thực sự cần thiết

Quản lý công sản

Nội dung 5:  Một số nội dung sửa đổi, bổ sung và tác động chủ yếu của Nghị định số 67/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 167/2017/NĐ- CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công.

Trả lời: Một là, về phạm vi nhà, đất phải thực hiện sắp xếp lại, xử lý: Nghị định 67/2021/NĐ-CP đã quy định rõ nhóm nhà, đất nào phải thực hiện sắp xếp lại, xử lý; nhóm nhà, đất nào không phải thực hiện do đã được điều chỉnh cụ thể tại các văn bản pháp luật khác như luật đất đai, luật nhà ở, ...

Hai là, về đối tượng đã quy định rõ hơn đối với nội dung “ ... công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ” cụ thể là các doanh nghiệp cấp I, cấp II, cấp III đều phải thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà đất. Quy định này, một mặt thống nhất với Luật doanh nghiệp năm 2020; mặt khác để phù hợp với thực tế hiện nay, các đối tượng này đang quản lý, sử dụng rất nhiều nhà, đất cần thiết phải thực hiện để bảo đảm sử dụng nhà đất tiết kiệm, có hiệu quả, hạn chế thất thoát.

Ba là, bổ sung thêm nguyên tắc quản lý đối với số tiền do các tổ chức, cá nhân hỗ trợ (ngoài số tiền bán tài sản trên đất, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, số tiền bồi thường, hỗ trợ được xác định theo đúng quy định của pháp luật) cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đang trực tiếp quản lý, sử dụng nhà, đất. Do đây là nội dung đã phát sinh trong thực tế thời gian qua và pháp luật chưa có quy định cụ thể.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định phân cấp mạnh hơn thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý nhà đất cho Bộ, cơ quan trung ương phê duyệt phương án đối với nhà, đất do doanh nghiệp cấp II, doanh nghiệp cấp III thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan trung ương; Bộ Tài chính chỉ phê duyệt phương án đối với nhà, đất do cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp cấp I thuộc trung ương quản lý. Quy định này  một mặt tăng cường trách nhiệm của Bộ, cơ quan trung ương; mặt khác nhằm cải cách, rút ngắn thời gian và đẩy nhanh thực hiện tiến độ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất, nhất là việc sắp xếp của các doanh nghiệp thuộc đối tượng thực hiện cổ phần hóa.

Năm là, sửa đổi quy định thẩm quyền quyết định xử lý nhà, đất thuộc trung ương quản lý. Cụ thể: Sửa đổi thẩm quyền quyết định thu hồi nhà, đất từ Bộ Tài chính về UBND cấp tỉnh để thống nhất đồng bộ với quy định của pháp luật đất đai và đảm bảo khả thi trong quá trình thực hiện quyết định thu hồi. Sửa đổi thẩm quyền quyết định bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc trung ương quản lý từ Bộ Tài chính về Bộ, cơ quan trung ương xem xét, quyết định nhằm đề cao trách nhiệm của các Bộ, cơ quan trung ương trong tổ chức thực hiện việc bán nhà, đất.

Sáu là, sửa đổi quy định rõ hơn việc xử lý chuyển tiếp. Nghị định đã quy định rõ về nội dung đối với từng trường hợp, từng tình huống cụ thể phát sinh từ thực tế cần được xử lý; cũng như thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý chuyển tiếp nhằm tháo gỡ kịp thời vướng mắc, trên nguyên tắc việc xử lý phải bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền.

Về tác động của Nghị định: Nghị định quy định rõ hơn về phạm vi, đối tượng áp dụng tháo gỡ những vướng mắc phát sinh, các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sẽ có cơ sở để triển khai thực hiện; đẩy nhanh tiến độ thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất.

Nghị định có quy định phân cấp, phân quyền trong triển khai thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất theo hướng phân cấp mạnh hơn như: các Bộ, cơ quan trung ương phê duyệt phương án đối với nhà, đất do doanh nghiệp cấp II, doanh nghiệp cấp III; quyết định bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý; UBND cấp tỉnh (nơi có nhà, đất) quyết định thu hồi (trước đây theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP là Bộ Tài chính quyết định đối với các trường hợp này). Vì vậy, sẽ đẩy nhanh tiến độ thực hiện và sẽ nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong việc xem xét phê duyệt, tổ chức triển khai thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất.

Việc xử lý chuyển tiếp được quy định rõ, cụ thể; góp phần giải quyết vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý đã được phê duyệt trước ngày Nghị định số 167/2017/NĐ-CP có hiệu lực; đặc biệt là các nhà, đất phê duyệt theo phương án chuyển nhượng, chuyển mục đích có nhiều dự án đang dừng hoặc chậm triển khai thực hiện do có vướng mắc phát sinh.

Tài chính ngân hàng

Nội dung 6: Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2016/NĐ-CP trong đó quy định rõ Bộ Tài chính cần chủ trì, nghiên cứu đề xuất việc thành lập thị trường mua bán nợ tại Việt Nam và giao dịch mua bán nợ. Đề nghị Bộ Tài chính cập nhật ngắn gọn nội dung, tiến độ thực hiện và các vấn đề liên quan đến chỉ đạo của Chính phủ

Trả lời: Luật Đầu tư năm 2014 quy định hoạt động kinh doanh mua bán nợ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Hướng dẫn thi hành Luật, ngày 01/7/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. Tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP không giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu đề xuất việc thành lập thị trường mua bán nợ tại Việt Nam và giao dịch mua bán nợ. Cụ thể, tại Điều 9 Nghị định số 69/2016/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của Bộ Tài chính: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ; Thực hiện quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ; Hướng dẫn thi hành Nghị định. Triển khai thực hiện: Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 53/2017/TT-BTC ngày 19/5/2017 hướng dẫn thi hành Nghị định số 69/2016/NĐ-CP và thực hiện quản lý giám sát các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ thông qua báo cáo của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Năm 2021, Quốc hội ban hành Luật đầu tư số 61/2020/QH14, trong đó quy định hoạt động kinh doanh mua bán nợ không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư trong đó có quy định bãi bỏ Nghị định số 69/2016/NĐ-CP  Như vậy, Nghị định số 69/2016/NĐ-CP đã hết hiệu lực thi hành. Căn cứ quy định nêu trên, ngành nghề kinh doanh dịch vụ mua bán nợ không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Hoạt động kinh doanh mua bán nợ được thực hiện như một ngành nghề kinh doanh dịch vụ thông thường theo quy định hiện hành (không có hạn chế đối với ngành nghề này). Quy định hiện nay đã tháo gỡ các rào cản pháp lý để hoạt động kinh doanh mua bán nợ được thực hiện thông thoáng hơn.

Về hoạt động bán nợ, hiện nay có nhiều doanh nghiệp thực hiện và mỗi nhóm doanh nghiệp có khuôn khổ pháp lý hoạt động khác nhau, gồm: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc các ngân hàng thương mại (AMCs) để mua bán nợ của các TCTD, thành lập theo Quyết định số 150/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ; Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC), được thành lập, tổ chức và hoạt động Nghị định số 129/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/10/2020, thực hiện mua bán nợ của các doanh nghiệp nhà nước; Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), được thành lập và hoạt động theo Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013 của Chính phủ và các Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định mua bán nợ xấu của các TCTD; Đối với các tổ chức, cá nhân khác thì theo Luật đầu tư sửa đổi thì hoạt động kinh doanh mua bán nợ không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện; do đó, việc kinh doanh mua, bán nợ sẽ được điều chỉnh chung theo quy định pháp luật dân sự và pháp luật doanh nghiệp (đối với các công ty mua bán nợ).

Năm 2020, Bộ Tài chính cũng đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ rà soát về khuôn khổ pháp lý về hoạt động mua, bán nợ và đã kiến nghị các Bộ ngành có liên quan quan tâm đến các định chế nêu trên.

Quang Minh