Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn NN đầu tư vào SXKD

Chiều 23/5/2014, Quốc hội đã được nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày tờ trình dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn NN đầu tư vào SXKD

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất

Theo bản trình bày của Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, thực trạng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp những năm qua đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước nói chung, và quản lý hoạt động tài chính DNNN nói riêng như các Nghị định, Quyết định, tuy nhiên, đến nay chưa có một Luật để điều chỉnh.

Việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách về quản lý vốn, tài sản của DNNN trong thời gian qua cơ bản đã khắc phục được một số tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tài sản của DNNN để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. DNNN đã từng bước thực hiện được vai trò, nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu nhà nước giao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội; là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối lớn của nền kinh tế...

Tuy nhiên, hoạt động của DNNN cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần thiết phải có một dự án Luật điều chỉnh nhằm khắc phục các hạn chế, tồn tại phát sinh trong thực tiễn đầu tư, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong thời gian qua. Đồng thời, đáp ứng các yêu cầu quản lý của nhà nước đối với DNNN trong việc định hướng, tổ chức lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện tái cơ cấu DNNN... cho nên việc ban hành dự án Luật là cần thiết.

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nêu rõ, mục tiêu xây dựng Luật là nhằm tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên cơ sở kế thừa những quy định dưới Luật đã ban hành có liên quan đang thực hiện ổn định và có hiệu quả, bổ sung các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý đối với DNNN.

Bên cạnh đó, phân định quyền hạn và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp, đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với người quản lý doanh nghiệp.

Luật cũng nhằm khắc phục việc doanh nghiệp sử dụng vốn, tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh không đúng mục tiêu, chiến lược, đầu tư dàn trải. Tuân thủ nguyên tắc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp.

Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, đa số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh nhằm góp phần hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước; khắc phục những bất cập đang tồn tại hiện nay và đảm bảo tính pháp lý đồng bộ với các luật có liên quan. Đồng thời, việc ban hành Luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tái cơ cấu nền kinh tế cũng như đóng góp tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong quản lý kinh tế. 

Đảm bảo đồng bộ pháp luật

Dự án Luật bao gồm 7 Chương, 63 Điều. Tờ trình quốc hội đã đưa ra 3 yếu tố  nêu lên sự cần thiết ban hành Luật. Trong đó, Dự án Luật được xây dựng, khắc phục các hạn chế, tồn tại phát sinh trong thực tiễn đầu tư, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong thời gian qua; Đáp  ứng các yêu cầu quản lý của nhà nước đối với DNNN trong việc định hướng, tổ chức lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện tái cơ cấu DNNN; Phù hợp với quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đảm bảo tính pháp lý đồng bộ với các Luật có liên quan.

Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, Chính phủ nhận thấy rằng, theo tên gọi của dự án Luật được giao, thì nội dung của Luật điều chỉnh toàn bộ quá trình sử dụng vốn của Nhà nước đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, về nguyên tắc, Nhà nước không trực tiếp sử dụng vốn để sản xuất, kinh doanh mà phải thông qua chủ thể là doanh nghiệp.

 Ngoài ra, tên gọi của dự án Luật như được giao sẽ không thể hiện đầy đủ các nội dung cần điều chỉnh, bởi thiếu sự quản lý đối với quá trình “đầu tư vốn nhà nước để hình thành tài sản của doanh nghiệp”; không bao quát được các mục tiêu của hoạt động đầu tư vốn nhà nước;...

 Vì vậy, để tránh trùng lặp giữa các Luật và để có cơ sở tập trung điều chỉnh những vấn đề, những nội dung pháp lý còn thiếu; trên cơ sở tiếp thu ý kiến của nhiều Bộ, ngành, ý kiến của các chuyên gia kinh tế, Chính phủ xin trình Quốc hội điều chỉnh tên gọi của dự án Luật là “Luật Đầu tư và quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”.

Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật là: “Luật này quy định việc đầu tư, quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và giám sát các hoạt động đầu tư, quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”.

Cần quy định rõ chủ sở hữu

Tại Hội trường, Chủ nhiệm Ủy Ban kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật trên.

Theo báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế nhận thấy việc đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, do đó cần được quy định nhất quán từ khâu đầu tư đến quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ủy ban Kinh tế đề nghị giữ tên gọi như cũ và cần có khái niệm bao quát đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất, kinh doanh.

Ủy ban Kinh tế nhận thấy các tài liệu của dự án Luật đã được Cơ quan soạn thảo chuẩn bị công phu, tuân thủ quy trình và yêu cầu của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bố cục và kết cấu của dự án Luật là phù hợp với 7 Chương và 63 Điều bao gồm đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước; giám sát, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp...

Tuy nhiên, đề nghị Cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, luật hóa tối đa các quy định tại văn bản dưới luật đã áp dụng có tính ổn định trong thời gian qua vào dự án Luật.

Ủy ban Kinh tế nhận thấy, dự thảo Luật đã có quy định về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác thông qua người đại diện, cũng như đã có quy định chi tiết về đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp tại Điều 27 dự thảo Luật.

Việc quy định quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác thông qua người đại diện là phù hợp với các nguyên tắc thị trường, đảm bảo quyền của các cổ đông khác trong doanh nghiệp cũng như đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

Các đại biểu đề nghị, dự thảo Luật cần quy định rõ chủ sở hữu là ai? Trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu, trách nhiệm của người đứng đầu như thế nào?

Đồng thời, cần bổ sung các quy định về chế tài xử lý, truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm tăng tính răn đe, hạn chế tình trạng khi xảy ra sai phạm không xác định được người chịu trách nhiệm, gây lãng phí, thất thoát vốn nhà nước. Từ đó, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào DN, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước đối với DNNN trong định hướng, tổ chức lại, nâng cao và phân định rõ vai trò quản lý nhà nước.

Trong báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế cho rằng, phạm vi đầu tư theo các hình thức đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đã được quy định chi tiết tại dự thảo Luật, đảm bảo tuân thủ các mục tiêu và nguyên tắc của việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp tại Điều 7 và Điều 8 của dự thảo Luật.

Tuy nhiên cần xác định rõ hơn những ngành, lĩnh vực sẽ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo từng hình thức đầu tư cụ thể. Theo đó, cần hạn chế tối đa việc Nhà nước thành lập doanh nghiệp mới, cũng như làm rõ những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước cần tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp và đề nghị quy định cụ thể hơn về vai trò, mô hình hoạt động của doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

(T.H - tổng hợp)