Cải cách kinh tế Việt Nam: Khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Không có quốc gia nào có thể phát triển nếu dựa hoàn toàn hoặc ỷ lại vào khu vực doanh nghiệp nước ngoài. Chính sách của Chính phủ quan tâm nhiều hơn đến kinh tế tư nhân, một khu vực năng động, là đúng hướng và đúng lúc.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.
Nâng cao năng lực cạnh tranh
 
Tại Diễn đàn Quan hệ đối tác phát triển việt Nam diễn ra hôm nay, ngày 5/12, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, năm năm đầu khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình thấp lại rơi đúng vào bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu và hậu quả của nó là “đại suy thoái”. Bối cảnh đó đòi hỏi tất cả các quốc gia, cả những quốc gia đả phát triển lẫn các nền kinh tế mới trỗi dậy như Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm phát triển kinh tế và ổn định an sinh xã hội. Những thách thức đó cũng đòi hỏi các quốc gia phải có những hành động thích hợp và nghiêm túc để tận dụng triệt để lợi thế hội nhập kinh tế cũng như giảm thiểu rủi ro.
 
Ở Việt Nam, nhu cầu cấp thiết về cải cách thể chế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đã dịch chuyển nhanh chóng tới các đề xuất chính sách của nhà nước. Hàn Quốc và Đài Loan là hai trong số những ví dụ điển hình trong khu vực về việc không ngừng cải thiện thể chế khi thu nhập GDP trên đầu người đã tăng lên. Cả hai quốc gia đó đều đã xây dựng được những thể chế phù hợp so với trình độ phát triển của họ. Vì vậy, việc chú trọng đến cải cách thể chế như Việt Nam đang làm hiện nay là hoàn toàn đúng đắn và kịp thời.
 
Nhưng cải cách thể chế không phải là vấn đề mới tại Việt Nam. Đổi mới bao gồm các chính sách về đảm bảo quyền sử dụng đất, bãi bỏ hợp tác hóa nông nghiệp, chính thức công nhận về mặt pháp lý kinh tế tư nhân, khuyến khích đầu tư nước ngoài, tự do hóa thương mại, dẫn đến việc Việt nam gia nhập WTO vào năm 2007. Tất cả diễn biến đó đã tạo ra môi trường đầu tư Việt Nam tương đối hấp dẫn hơn so với các nước cùng trình độ và tạo ra làn sóng cải cách thể chế đầu tiên. Kết quả là Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng GDP đầu người nhanh thứ hai trên thế giới trong suốt 20 năm qua.
 
Là một nước thu nhập trung bình, trong vòng 5 năm tới tại Việt Nam sẽ diễn ra đồng thời một số tiến trình quan trọng - xây dựng kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội (2006-2020), chuẩn bị văn kiện đại hội Đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016. Đây là cơ hội ít có để lên kế hoạch cho một đợt cải cách thế chế mới nhằm nâng cao năng suất, đẩy mạnh tăng trưởng - những điều mà Việt Nam đang rất cần, và đóng góp vào hiện đại hóa nền kinh tế, xã hội.
 
“Nếu các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách có thể tận dụng được cơ hội này, thì đó sẽ là nhân tố quan trọng giúp Việt Nam thành công với tư cách là một nước thu nhập trung bình và giúp Việt Nam nhanh chóng đặt nền móng thực hiện hoài bão trở thành một nền kinh tế thu nhập cao. Việc sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng như Luật phá sản, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công… là khởi điểm tốt cho việc xây dựng các biện pháp đổi mới thể chế tiếp theo. Phép trắc nghiệm về quyết tâm của Chính phủ đối với lịch trình này sẽ là sự thực hiện hiệu quả và minh bạch các chính sách đó. Chúng tôi hy vọng Chính phủ sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức theo dõi và đánh giá công tác thực hiện một cách đồng bộ để rút ra bài học cho các lần đổi mới chính sách sau này”. - Bà Victoria Kwakwa khuyến nghị.
 
Tăng cường thể chế quản lý kinh tế vĩ mô
 
Một phần quan trọng của cải cách cũng cần phải đề cập việc tăng cường thể chế quản lý kinh tế vĩ mô. Tuy tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định trong 3 năm qua nhưng kết quả vẫn còn chưa chắc chắn và cần tiếp tục củng cố sự ổn định vĩ mô dài hạn. Các chính sách và quy trình lập, duyệt kế hoạch hóa tài khóa và thực hiện chính sách tiền tệ, tỷ giá cũng phải vận động theo hướng minh bạch và nguyên tắc thị trường hơn. Cụ thể, cần xem xét và cân nhắc tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng một ngân hàng Trung ương hiện đại. Đây là những vấn đề quan trọng trong lịch trình tăng cường năng lực cạnh tranh và hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam.
 
Khuyến khích sự phát triển một khu vực kinh tế tư nhân năng động hơn nữa cũng là trọng tâm trong cải cách kinh tế Việt Nam. Thực tế, kinh tế tư nhân đã phải vật lộn với khó khăn thử thách trong vài năm qua. Một số doanh nghiệp đã phải đóng cửa. Số còn lại chủ yếu nằm trong khu vực phí chính thức, quy mô rất nhỏ hoặc nhỏ và vừa. Trên thực tế nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy quy mô trung bình của doanh nghiệp đã thu hẹp trong bài năm gần đây. Các doanh nghiệp trong nước đã không tận dụng được tác động lan tỏa từ các doanh nghiệp nước ngoài. Sự tham gia của họ vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng manh mún và hạn chế. Không có quốc gia nào có thể phát triển nếu dựa hoàn toàn hoặc ỷ lại vào khu vực doanh nghiệp nước ngoài. Chính sách của Chính phủ quan tâm nhiều hơn đến kinh tế tư nhân, một khu vực năng động, là đúng hướng và đúng lúc. Cải cách thể chế cũng cần tập trung vào các vấn đề này và các thách thức khác mà kinh tế tư nhân đang phải đối mặt. Sắp tới, hội nhập kinh tế sẽ hướng vào chiều sâu thông qua cộng đồng kinh tế ASEAN, EFTA, TPP, thỏa thuận thương mại với Hàn Quốc và một số nước khác sẽ mang lại cơ hội phát triển kinh tế tư nhân. Nhưng sẽ không thể thực hiện được điều đó nếu không có khu vực công vững mạnh bao gồm nhiều thể chế chung tay giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải.
 
Trên cơ sở đó, cải cách doanh nghiệp nhà nước tiếp tục là vấn đề quan trọng. Đây sẽ là bàn đạp để phát triển các doanh nghiệp trong nước. Cải cách doanh nghiệp nhà nước cần theo hướng giảm tập trung vào con số doanh nghiệp cổ phần hóa và thay vào đó cần chú ý đến chất lượng cổ phần hóa. Trước hết cần nâng tỷ lệ sở hữu tư nhân trong doanh nghiệp nhà nước để tăng mức độ hấp dẫn các nhà đầu tư, và tăng cường cải tiến quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, cần nâng cao minh bạch thông qua công khai thông tin thường kỳ với độ tin cậy cao, chấm dứt ưu đãi vốn và đất đai, và nên áp ngân sách cứng lên các doanh nghiệp nhà nước.

"Đó chính là nhân tố quan trọng, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân, kể cả doanh nghiệp tư nhân trong nước phát triển. Quyết định 61 về minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp nhà nước năm 2013, và Luật Đầu tư và sử dụng vốn nhà nước trong sản xuất kinh doanh đã đi đúng hướng khi giải quyết các vấn đề này, nhưng vấn đề còn lại ở đây là khâu thực hiện.” - Đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khẳng định.
 
Cụ thể, cần một kế hoạch rõ ràng về giải quyết nợ xấu trong quá trình thực hiện cải cách ngành ngân hàng. Các nỗ lực gần đây nhằm tăng cường khung pháp lý cho hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) là rất quan trọng, tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là lấy vốn ở đâu để giải quyết nợ xấu. Nếu không có giải pháp đáng tin cậy thì các ngân hàng sẽ ngần ngại khi cho doanh nghiệp tư nhân vay vốn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ.
 
Việt Nam thực hiện cải cách thể chế là để dịch chuyển sang kinh tế thị trường và chọn cách đi thận trọng hơn các nền kinh tế kế hoạch trước đây. Thực tế, đi nhanh cũng rủi ro mà đi chậm cũng có rủi ro riêng, nhất là nguy cơ tạo ra những nhớm lợi ích cản trở đổi mới. Việt Nam cần phác ra đường đi của mình, đồng thời, cân nhắc kỹ lưỡng thiệt hơn của từng cách tiếp cận.
 
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng khích lệ trong năm 2014. Năm 2014 dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng đáng kể và đảm bảo sẽ tăng trong năm 2015 lên mức tương đương 12 tuần nhập khẩu trở lên. Tăng trưởng GDP của Việt Nam vào khoảng 5,9% (2014), dự kiến năm 2015 sẽ khoảng 6,2%, và kế hoạch 5 năm 2016-2020, GDP của Việt Nam sẽ là 6,5-7%/năm. Sang năm 2015 Chính phủ sẽ tiếp tục chú trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với chính sách tài khóa, kiểm soát lạm phát khoảng 5%. Điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát. Tăng dư nợ tín dụng phù hợp với yêu cầu tăng trưởng đồng thời đảm bảo chất lượng tín dụng. Ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối, tăng dự trữ ngoại hối và đảm bảo giá trị đồng tiền Việt Nam, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh. Đồng thời, tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tập trung chống thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá, triệt để tiết kiệm chi ngân sách, không tăng chi thường xuyên ngoài lương, đảm bảo bội chi theo kế hoạch là 5% GDP. Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn.
 
Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các biện pháp tăng tổng cầu, hỗ trợ phát triển thị trường. Bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư, tập trung vào các công trình quan trọng, cấp bách, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng. Đẩy nhanh xử lý và hạn chế nợ xấu phát sinh. Tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên, tạo thuận lợi trong tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt khác, quan tâm phát triển thị trường trong nước, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”…
 
(T.Hương)