Cải cách tài chính để Đông Á trở thành động lực tăng trưởng toàn cầu

Tiềm lực tài chính của khu vực Đông Á rất lớn nhưng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Do đó, các quốc gia trong khu vực cần hợp tác hơn nữa.

Cải cách tài chính để Đông Á trở thành động lực tăng trưởng toàn cầu.Cải cách tài chính để Đông Á trở thành động lực tăng trưởng toàn cầu.

Hệ thống tài chính Đông Á phát triển quá chênh lệch

Tại Hội thảo Quốc tế Ổn định tài chính và xu hướng tăng cường hợp tác tài chính trong khu vực Đông Á, ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) nhận định: Các cuộc khủng hỏang kinh tế, tài chính khu vực và toàn cầu trong thời gian vừa qua đã giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn tầm quan trọng của hợp tác tài chính khu vực và phối hợp chính sách trong ngăn ngừa, giải quyết các rủi ro tài chính. Châu Á nói chung và Đông Á đang trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đông Á nếu tính cả  Úc, New Zealand hiện  chiếm ¼ GDP toàn cầu, và 50% dự trữ ngoại hối và đến năm 2020 sẽ chiếm ½ GDP toàn cầu.  Đông Á đang có lực hút quan trọng để Mỹ và EU chuyển trục từ Tây sang Đông bán ầu.

Tuy nhiên, xét về sự hội nhập tài chính, đặc biệt là lĩnh vực thương mại, đầu tư của Đông Á chưa tương xứng tốc độ, quy mô... Xét trên quy mô tài chính, tổng tài sản của hệ thống tài chính của Châu Á chỉ gấp 3 lần GDP của khu vực này, thấp hơn Mỹ và EU (6 lần). Hệ thống giám sát tài chính của khu vực Đông Á cũng còn chậm hơn so với Mỹ và EU, vì vậy, cải cách tài chính trở thành nhu cầu tất yếu. Nếu không có cải cách tài chính, Đông Á nói riêng và Châu Á nói chung không thể đóng vai trò là động lực tăng trưởng toàn cầu trong thời gian tới.  

Theo TS. Lê Xuân Sang, Trưởng ban Chính sách Kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương, hệ thống tài chính Đông Á sẽ phát triển mạnh mẽ trong vòng 15-20 năm nữa. Mô hình dự báo của ANZ cho thấy, hệ thống tài chính Đông Á sẽ lớn hơn Mỹ, EU cộng lại năm 2030, thị trường trái phiếu (trừ Nhật Bản) sẽ tương đương Mỹ, còn trái phiếu chính phủ sẽ tăng 6 lần đạt 55.000 tỷ USD vào năm 2030. Đến năm 2015, các nước Đông Á sẽ chiếm khoảng trên 50% GDP toàn cầu, trong khi Mỹ và EU chỉ còn dưới 20%.

Tuy nhiên, hệ thống tài chính Đông Á phát triển quá chênh lệch, do đó, khi hội nhập sẽ dễ gây rủi ro hệ thống. Trong khi đó, nhân tố Trung Quốc ảnh hưởng ngày càng lớn, đòi hỏi phải cải cách sâu rộng tại nước này và các nước Đông Á khác... Điều này đòi hỏi các nước Đông Á phải liên tục cải cách tài chính đảm bảo hiệu quả, an toàn của hệ thống tài chính. Cụ thể, nhiều nước dựa quá mức vào ngân hàng để huy động vốn thay vì dựa vào thị trường chứng khoán (có quản trị tốt hơn, ít sai lệch kép), từ đó tiềm ẩn rủi ro, nhất là rủi ro nợ xấu, đạo đức. Mặt khác, thị trường trái phiếu công ty kém phát triển, quản trị yếu kém, cho vay theo chỉ định, kiểu “cánh hẩu” ít bị giám sát... dẫn đến rủi ro nợ xấu.

Sau khủng hoảng 1997 một số nước thắt chặt giám sát thị trường vốn, quy định về an toàn, cùng với tiết kiệm cao đã đưa tỷ lệ dự trữ ngoại hối của các nước Đông Á tăng cao. 15 năm qua, các ngân hàng trung ương đã tích cực mua trái phiếu Mỹ khiến phần lớn thặng dư vốn được bơm ngược vào hệ thống tài chính thế giới. Tuy có mức tăng trưởng kinh tế mạnh nhưng thị trường tài chính lại phát triển không tương xứng.

Cần giám sát luồng vốn cả khu vực

Sau mỗi cuộc khủng hoảng, các quốc gia trong khu vực đều mong muốn tăng cường và thắt chặt quan hệ hợp tác tài chính nhằm gia tăng tính ổn định, nâng cao khả năng ngăn ngừa khủng hoảng và hỗ trợ tăng trưởng nhanh, cân bằng, ổn định. Quá trình tăng cường hợp tác tài chính khu vực, theo đó, sẽ cần được tập trung đẩy mạnh hơn nữa trên cả ba khía cạnh: Xây dựng các thể chế quản lý và ngăn ngừa khủng hoảng của khu bực; phát triển và kết nối các thị trường tài chính khu vực và tăng cường hợp tác chính sách tài chính, tiền tệ giữa các quốc gia.

Ông Nguyễn Bá Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tài chính) cho biết, các cơ chế hợp tác tài chính đã tạo ra một hệ thống an toàn về tài chính và tạo tín hiệu tốt cho thị trường. Tuy nhiên, các cơ chế tài chính khu vực này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn cần một khung khổ hợp tác tài chính để quản lý, ngăn ngừa và đối phó với khủng hoảng trong khu vực. Việc giám sát, ngăn ngừa và đối phó với khủng hoảng cần được phát triển và tăng cường hơn nữa.

Đồng thời, cần tăng cường các biện pháp giám sát ở cấp quốc gia bên cạnh việc giám sát diễn biến kinh tế tài chính của cả khu vực. Để làm được điều đó, công tác giám sát nên xuất phát từ việc nắm vững và hiểu rõ các điều kiện và sự phát triển kinh tế của mỗi nước, đồng thời, gắn kết các diễn biến kinh tế riêng biệt của mỗi nước với các diễn biến chung của cả khu vực. Do vậy, hợp tác tài chính khu vực cần đảm bảo cơ chế hợp tác chặt chẽ, có tính gắn kết trách nhiệm cao giữa các nước thành viên trong trao đổi thông tin, hỗ trợ và phối hợp chính sách với cơ chế giám sát khu vực.

Thêm nữa, giám sát tài chính khu vực hiện nay vẫn đang tập trung trên các biến số, các quan hệ kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong môi trường kinh tế tài chính phát triển ngày càng mạnh mẽ, vai trò của các dòng luân chuyển vốn, vai trò của diễn biến tỷ giá, lãi suất, tiền tệ đã càng trở nên quan trọng đối với sự ổn định và an toàn của cả nền kinh tế quốc gia cũng như kinh tế cả khu vực. Do đó, việc tăng cường năng lực trên khía cạnh hợp tác giám sát tài chính vi mô, giám sát các thị trường tài chính, thị trường vốn nhằm mục tiêu ổn định tài chính cho mỗi quốc gia và khu vực cũng cần được cân nhắc và triển khai.

Còn TS. Lê Xuân Sang lại cho rằng: Thực hiện lộ trình xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), luồng vốn sẽ chu chuyển tự do hơn, tiêu chuẩn thị trường vốn ASEAN sẽ được điều chỉnh theo hướng công khai, công nhận lẫn nhau về nghiệp vụ... cho phép nguồn vốn linh động hơn, tự do hóa dịch vụ tài chính từng bước theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS). Tuy nhiên, điểm hạn chế là còn chậm do mức độ chênh lệch quá lớn, tuân thủ các quy định về kiểm soát vốn, hạ tầng phân mảng và phối kết hợp kém, đặc biệt là còn do dự giữa lợi ích và rủi ro khi mở cửa thị trường.

Sau khủng hoảng, tự do hóa tài chính tiếp tục được đẩy mạnh ở một số ước theo hướng tăng cường hạ tầng pháp lý, giám sát hệ thống tài chính; phục hồi các định chế tài chính, tăng cường giám sát an toàn tài chính. Tuy nhiên, cần có cách tiếp cận giữa các nước nhằm ngăn ngừa, phòng tránh rủi ro hệ thống và tác động lan tỏa. Các nước trong khu vực cần xây dựng khung quản lý khủng hoảng và hệ thống điều tiết giám sát trong khu vực/toàn cầu.  Xu hướng phát triển và cải cách tài chính Đông Á trong thời gian tới sẽ tập trung mở rộng các hoạt động xuyên biên giới trong nước và toàn cầu. Ranh giới địa lý quốc gia không còn là hàng rào ngăn cản hội nhập quốc tế và áp lực đòi hỏi hợp nhất định chế tài chính nhỏ ngày càng lớn thông qua hình thức M&A. Ngày càng có sự hội tụ giữa định chế tài chính về các sản phẩm tài chính, các mô hình công ty mẹ và mô hình ngân hàng đa năng tiếp tục ra đời và phát triển.

Tái cân bằng kinh tế toàn cầu và chuyển đổi hệ thống tài chính Đông Á là đông lực quan trọng trong thập niên tới. Châu Á sẽ chuyển dịch từ đầu tư vào trái phiếu chính phủ, nhất là trái phiếu kho bạc Mỹ sang trái phiếu tư nhân, góp phần phân bổ lại tiết kiệm ở Đông Á. Chính phủ các nước,các tổ chức khu vực sẽ khó khăn trong xây dựng và thực thi chính sách trong một thế giới biến động hơn; tự do hóa dòng vốn cùng với những tác động của vấn đề chính trị đòi hỏi cải cách sâu, có lộ trình hợp lý, nhất là tự do hóa tài chính.

(T.Hương)