Cần làm rõ khái niệm sản phẩm hoàn chỉnh ngành công nghiệp ô tô

Bộ Tài chính vừa có ý kiến đối với các nội dung về Đề án Phát triển Khu công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành cơ khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Đề án Phát triển Khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam trong khi mục II phần II Đề án (trang 32) đề xuất chính sách ưu đãi và hỗ trợ của nhà nước có nêu phạm vi điều chỉnh là: áp dụng đối với các dự án đầu tư CNHT phục vụ các ngành: cơ khí chế tạo, sản phẩm hoàn chỉnh ngành công nghiệp ô tô và máy móc phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp tại Khu kinh tế mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam.

Bộ Tài chính đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần làm rõ khái niệm sản phẩm hoàn chỉnh ngành công nghiệp ô tô là những sản phẩm gì. Trong trường hợp đưa sản phẩm hoàn chỉnh ngành công nghiệp ô tô vào phạm vi điều chỉnh để được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ, cần phải được xét trong tổng thể Quy hoạch và Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô.

Ngoài ra, ngày 9/10/2014 Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 404/TB- VPCP thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp về cơ chế, chính sach phát triển công nghiệp hỗ trợ và khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội. Theo đó, Chính phủ đã cho phép các khu công nghiệp gồm khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nộ; 03 phân khu công nghiệp hỗ trợ, tỉnh ĐỒng Nai và 2 khu công nghiệp chuyên sâu về cơ khí chế tạo và công nghiệp điện tử tại Hải Phòng và Bà Rịa - Vũng Tàu được hưởng một số chính sách ưu đãi (miễn tiền thuê đất đến 20 năm, miễn thuế nhập khẩu tạo tài sản cố định...). Do vậy đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, cân nhắc tính cần thiết để trình Chính phủ phê duyệt Đề án dựa trên các yếu tố mục tiêu phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, thu hút đầu tư, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đại phương, tránh dàn trải, lãng phí nguồn lực.

Áp thuế cần phù hợp

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp có dự án đầu tư mới (trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), dự án khai thác khoáng sản) tại khu kinh tế; dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng các tiêu chí theo quy định (sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao; sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may, da - giày, điện tử - tin học; sản xuất lắp rát ô tô; cơ khí chế tạo...) được áp dụng ưu đãi thuế TNDN cụ thể như sau: thuế suất ưu đãi 10% trong thời gian 15 năm; được miễn 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Trường hợp dự án đầu tư nêu trên của doanh nghiệp đồng thời đáp ứng các tiêu chí gồm: có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 tỷ đồng; sử dụng công nghệ được thẩm định theo quy định của Luật Công nghệ cao, Luật khoa học và công nghệ; thực hiện giải ngân không quá 5 năm kể từ ngày được phép đầu tư và sản xuất sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh toàn cầu, doanh thu trên 20.000 tỷ đồng/năm chậm nhất sau 5 năm kể từ khi có doanh thu từ dự án hoặc sử dụng thường xuyên trên 6.000 lao động hoặc đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật thì được xem xét kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi không quá 15 năm.

Đối chiếu với các quy định ưu đãi tại Luật thuế TNDN như nêu trên, nội dung ưu đãi cho các dự án đầu tư tại khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại khu kinh tế mở Chu Lai: "được áp dụng miễn thuế 4 năm đầu, thuế suất 5% trong 10 năm tiếp theo và 10% trong 6 năm kế tiếp (tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% là 20 năm); trường hợp dự án có quy mô vốn đầu tư trên 2.000 tỷ đồng hoặc sử dụng trên 4.000 lao động, có khả năng thu hút doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ được kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% thêm 10 năm" là không phù hợp với quy định của Luật thuế TNDN và vượt quá thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ (TTCP).

Đối với nội dung ưu đãi thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được nêu tại đề án, Bộ Tài chính cho rằng, theo quy định của Luật thuế TNCN (điều 5) thì việc giảm thuế được áp dụng đối với đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xem xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp. Trường hợp những khoản thu nhập của cá nhân được ưu đãi về thuế quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước ngày Luật thuế TNCN có hiệu lực thì tiếp tục được hưởng ưu đãi (khoản 3 Điều 34).

Theo quy định của pháp luật trước ngày Luật thuế TNCN có hiệu lực thì chỉ có quy định việc giảm 50% số thuế TNCN phải nộp cho các đối tượng làm việc trong khu kinh tế và chính sách này tiếp tục được bảo lưu theo quy định của Luật thuế TNCN nêu trên.

Do đó, nội dung ưu đãi nêu tại đề án: "tăng mức giảm thuế TNCN từ 50% lên 70% đối với cá nhân làm việc tại khu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tại khu kinh tế mở Chu Lai" là không phù hợp với quy định Luật thuế TNCN nêu trên và vượt quá thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

(T.H)