Cần một chiến lược toàn diện cho phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên

Nhằm mục đích tái cơ cấu cây trồng trên cơ sở tìm kiếm cây công nghiệp chiến lược mới tại khu vực Tây Nguyên, hội thảo “Chiến lược phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên đã được tổ chức tại Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, với sự chủ trì của Ban Kinh Tế Trung Ương, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Tỉnh Lâm Đồng.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Tại đây, các chuyên gia đã tập trung thảo luận các vấn đề quan trọng như: Cơ sở và điều kiện để xây dựng cây mắc ca như một cây công nghiệp chiến lược mới tại khu vực Tây Nguyên nói riêng và trong hệ thống các cây trồng trọng điểm của Việt Nam nói chung; khả năng phát triển mắc ca tại Tây Nguyên; quy hoạch phát triển mắc ca để đảm bảo phát triển  bền vững; tác động của ngành kinh tế mắc ca đối với các bên hữu quan; mô hình đầu tư vào cây mắc ca; chuỗi giá trị cây mắc ca; thị trường cho các sản phẩm mắc ca; ứng dụng công nghệ vào việc phát triển mắc ca; cây và sản phẩm mắc ca trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế, vai trò của hiệp hội mắc ca Việt Nam… Đồng thời, các vấn đề như xác định vùng trọng điểm trồng mắc ca, quyền sử dụng đất của người nông dân với tư cách là các điền chủ cũng như các công nhân nông nghiệp; khả năng phát triển tín dụng cho cây mắc ca, sản phẩm bảo hiểm cây mắc ca, hỗ trợ kỹ thuật cho các hộ dân, ứng dụng công nghệ để gia tăng giá trị cho sản phẩm mắc ca cũng là những vấn đề được quan tâm.

Nhiều thuận lợi phát triển mắc ca

Chia sẻ về lý do lựa chọn cây mắc ca để đầu tư tại Tây Nguyên, TS. Nguyễn Đức Hưởng cho biết: Quan điểm kinh doanh của LienVietPostBank là chủ động tìm đối tượng đầu tư để giải ngân vốn vay có hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế đang có dấu hiệu ứ động vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thấp, nhiều rủi ro. Thứ hai, các loại cây cà phê, cao su, tiêu, điều của đồng bào Tây Nguyên mấy năm nay đang già cỗi, đặc biệt là cây cà phê. Do đó, đây chính là thời điểm đặt ra nhu cầu bức thiết về tái cơ cấu cây trồng và tìm kiếm, lựa chọn một cây công nghiệp chiến lược mới cho Tây Nguyên.

Mắc ca đã được khẳng định là “Hoàng hậu quả khô” với ưu điểm là: hạt ngon nhất, nhiều dinh dưỡng nhất, nhiều công dụng nhất trong các loại quả hạt. Ngoài hạt là sản phẩm chính, vỏ quả mắc ca có thể được nghiền làm thức ăn gia súc, trong khi vỏ hạt có thể dùng làm nhiên liệu, hoặc nghiền làm vật liệu hữu cơ. Hiện nay trên thế giới cầu gấp 4 lần cung.

Tuy nhiên loại cây này lại rất kén khí hậu và thổ nhưỡng, và Tây Nguyên, Việt Nam là một trong số ít nơi trên thế giới trồng được loại cây này với khí hậu không lạnh quá và không có sương muối khi thời điểm cây ra hoa, được xem là vùng đất thích hợp để trồng loại cây này. Về tiềm năng phát triển cây mắc ca, nghiên cứu của LienVietPostBank và Công ty Cổ phần Him Lam đã xác định có nhiều thuận lợi như cơ chế chính sách của Nhà nước đã hình thành, kinh nghiệm tích lũy tích lũy sau 20 năm cây mắc ca được đưa vào Việt Nam, đầu ra rất có tiềm năng, chi phí nhân công thấp và giá thành cao cho phép hoàn vốn nhanh…

Với những lý do nêu trên cùng với khoảng 3 triệu hecta rừng; 1,5 triệu hecta đất bazan màu mỡ, chiếm đến 60% đất bazan cả nước, theo ông Hưởng “Tây Nguyên hoàn toàn có khả năng trở thành thủ phủ của “cây tỷ đô” mắc ca, không những tại Việt Nam mà còn toàn Đông Nam Á”.

Là ngân hàng tiên phong trong lĩnh vực cung cấp tín dụng cho việc trồng và phát triển cây mắc ca - loài cây được xác định là cây chiến lược mới của khu vực Tây Nguyên - LienVietPostBank một lần nữa khẳng định mục tiêu trở thành “ngân hàng của mọi người”, luôn mang đến khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tài chính nhiều tiện ích, đặc biệt là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn. Phát triển tín dụng cho khu vực Nông nghiệp - Nông thôn là một chính sách lớn và xuyên suốt trong quá trình hoạt động của LienVietPostBank. Hiện nay, khoảng 40% dư nợ tín dụng của LienVietPostBank thuộc khu vực này.

Khó khăn cũng không ít

Chuỗi giá trị của cây mắc ca bao gồm 4 giai đoạn chính: Nghiên cứu, Trồng/Sản xuất, Chế biến và Thương mại. Để phát triển cây mắc ca thành công, việc phát triển đồng bộ cả 4 giai đoạn trong chuỗi giá trị là yếu tố thành công đã được chứng minh tại các quốc gia phát triển cây mắc ca. Nhìn chung, việc trồng cây mắc ca tại Việt Nam vẫn phải phụ thuộc khá nhiều vào nguồn Giống nhập khẩu từ nước ngoài (Úc, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan). Một vài năm trở lại đây, cây mắc ca tại Việt Nam đã bắt đầu vào giai đoạn cho thu hoạch nên đã được sử dụng để làm Giống. Hiện tại Việt Nam mới chỉ có các dự án nghiên cứu ở quy mô nhỏ lẻ tại các Viện Nghiên cứu chứ chưa có những đề án có quy mô rộng cấp quốc gia. Trong khi đó, cây mắc ca chủ yếu vẫn được trồng ở quy mô nhỏ, chủ yếu là xen canh với các loài cây công nghiệp như cà phê, điều, ca cao, hồ tiêu và một số cây ăn quả. Tỷ lệ trồng mắc ca là chưa lớn so với diện tích vườn (bình quân 0.5 - 2 ha, chiếm khoảng 20% - 30% diện tích đất cây lâu năm hiện có).

Đáng chú ý, ở khâu chế biến, hiện nay, chưa có nhiều nhà máy chế biến công nghệ cao tại Tây Nguyên, mới chỉ có 1 nhà máy chế biến đang được đưa vào xây dựng tại Đắk Lắk và 2 nhà máy chế biến đã được đưa vào hoạt động được 2 năm tại Đắk Nông. Xét về mặt thị trường tiêu thụ, vì sản lượng mắc ca Việt Nam còn thấp nên hạt mới chỉ được dùng để làm giống chứ chưa có giá trị thương mại cao. Ngoài ra, phần lớn số hạt mắc ca Việt Nam này mới chỉ được sử dụng trong thị trường nội địa. 

Mặc dù vậy, tại thị trường nội địa, nguồn cung mắc ca chủ yếu đều là các sản phẩm được nhập từ Úc hoặc Hoa Kỳ vì theo một cơ sở chuyên bán các hạt dinh dưỡng nhỏ lẻ tại Hà Nội, ở Việt Nam chưa có nơi phân phối chính thức loại hạt này. Như vậy, có một thực trạng đáng lưu ý hiện nay là hạt mắc ca của Việt Nam sản xuất đang bị cạnh tranh trong thị trường nội địa bởi chính nhân mắc ca nhập khẩu, mặc dù giá thành của nhân mắc ca nhập từ Úc cao hơn nhân mắc ca của Việt Nam. Hơn nữa, vì chỉ có một số vùng trồng mắc ca ở Việt Nam đã cho thu hoạch nên sản lượng còn thấp, nguồn hàng không ổn định. Còn tại thị trường Quốc tế là thị trường tiêu thụ chủ yếu hạt mắc ca; tuy nhiên các thị trường nhập khẩu chính như Hoa Kỳ, Úc hay Châu Âu đều có tiêu chuẩn khá khắt khe về mặt chất lượng. Thêm vào đó, Việt Nam chưa có yếu tố cạnh tranh về chất lượng và thương hiệu, do đó sẽ còn gặp khá nhiều khó khăn trong việc thâm nhập các thị trường này.

(T.Hương)