Cần xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ để quản lý nông nghiệp hữu cơ

(eFinance Online) - Ngày 31/8, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Dự án EU-MUTRAP tổ chức Hội thảo “Khuyến nghị chính sách để quản lý và phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam”. 
Toàn cảnh buổi Hội thảo.Toàn cảnh buổi Hội thảo.

Hội thảo được tổ chức nhằm trưng cầu ý kiến của các chuyên gia, các nhà sản xuất, doanh nghiệp liên quan đến nông nghiệp hữu cơ để hoàn thiện, xây dựng Nghị định về định sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trước khi gửi các Bộ ngành lấy ý kiến trình Chính phủ phê duyệt. Hội thảo có sự tham gia của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các nhà sản xuất về nông nghiệp hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ: Xu hướng tại Việt Nam

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Trần Thanh Nam cho biết, trước yêu cầu phát triển nông nghiệp hữu cơ, yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã thực hiện lấy ý kiến khảo sát qua các Hội thảo từ miền Nam tới miền Bắc và từ đó đề xuất Chính phủ xây dựng Nghị định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ. Để triển khai nhiệm vụ này, Bộ đã thành lập Ban soạn thảo, làm việc tích cực với rất nhiều các chuyên gia đầu ngành và xây dựng nên dự thảo Nghị định. Đồng thời, tổ chức gặp gỡ các doanh nghiệp trong lĩnh vực này tại miền Nam, lắng nghe tiếp thu rất nhiều ý kiến. Hôm nay, tại miền Bắc,  Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tiếp tục tổ chức Hội thảo với mục tiêu tiếp tục lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp góp ý và trao đổi thêm về hướng phát triển của nông nghiệp hữu cơ trong thời gian tới. 

Hội thảo tập trung vào việc rà soát, sửa đổi tiêu chuẩn TCVN 11041:2015 về hướng dẫn sản xuất, chế biến, ghi  nhãn và tiếp thị thực phẩm được sản xuất theo phương pháp hữu cơ, và một số nội dung cụ thể : Qui hoạch và bảo vệ đất đai, nguồn nước hiện chưa hoặc ít bị ô nhiễm và còn thích hợp cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo hướng hàng hóa; Quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh và chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ giúp người tiêu thụ an tâm khi sử dụng, đảm bảo sản phẩm an toàn, chất lượng, được chứng nhận và cam kết truy xuất được nguồn gốc; Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh sản phẩm hữu cơ, đầu tư sản xuất phân bón hữu cơ, phân sinh học, vi sinh, chế phẩm bảo vệ thực vật sinh học; Xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm hữu cơ Việt Nam.

Thực tế, Việt Nam vốn là nước có lịch sử sản xuất nông nghiệp và phương thức canh tác hữu cơ từ lâu đời. Ngay từ những năm 90, một số tổ chức chính phủ đã đến Việt Nam nghiên cứu, đầu tư các dự án sản xuất hữu cơ và đã giúp người nông dân nước ta tiếp cận với phương thức canh tác và mô hình sản xuất hữu cơ. Trong thời gian qua, diện tích nuôi trồng hữu cơ của nước ta ngày càng tăng đáng kể. Cụ thể, diện tích nuôi trồng hữu cơ năm 2015 ước đạt khoảng hơn 76 nghìn ha tăng trên 3,6 lần so với năm 2010.

Bắt kịp với xu hướng thị trường về nhu cầu sử dụng thực phẩm hữu cơ ngày càng tăng, hiện nay các doanh nghiệp trong nước đã nổ lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước với các mặt hàng chính: chè và các loại rau cũ quả. Và một số sản phẩm đã tiếp cận được thị trường quốc tế: chè, gia vị, tinh dầu. Xuất khẩu chủ yếu đi các nước như Mỹ và thị trường Châu Âu.

Nhiều hộ nông dân cũng nắm bắt cơ hội phát triển của sản phẩm hữu cơ, đã liên kết hình thành tổ hợp tác, Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hữu cơ theo thức tự nguyện áp dụng theo tiêu chuẩn của Hệ thống đảm bảo sự tham gia (PGS) do Liên đoàn quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) xây dựng và ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay cũng đang xuất hiện nhiều loại sản phẩm đóng nhãn mác thực phẩm hữu cơ, nhưng chưa thực sự phù hợp với tiêu chuẩn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, không đáp ứng các yêu cầu an toàn thực phẩm khiến cho tâm lý người tiêu dùng hoang mang, thiếu tin tưởng vào chất lượng các loại thực phẩm hữu cơ lưu thông trên thị trường. Vì thế việc lấy ý kiến chia sẻ thông tin về quản lý nông nghiệp hữu cơ để xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật thực sự là cần thiết, tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam đúng hướng, tạo niềm tin cho người sản xuất, doanh nghiệp và cả người tiêu dùng.

Trong bối cảnh hiện nay, xu thế sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đang là xu hướng phát triển và sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới do đảm bảo cung cấp được các sản phẩm tốt hơn cho sức khỏe con người và cho xã hội. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ phù hợp với chủ trương tái cơ cấu của ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, nâng cao giá trị gia tăng, hướng tới xuất khẩu, góp phần định vị và nâng cao thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ nông nghiệp thế giới. Do vậy, Hội thảo này thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam.

Cần hoàn thiện chính sách pháp luật

Tại Hội thảo, đa phần các diễn giả đều cho rằng, hoàn thiện chính sách pháp luật chính là một trong những yếu tố để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ trong thời gian tới. PGS.TS. Nguyễn Xuân Hồng - Nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật chia sẻ, là một nước nông nghiệp, Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển ngành nông nghiệp hữu cơ. Do hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng giúp các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ các nước. Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp thu kinh nghiệp các nước trong phát triển nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi thì cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, phải kể đến như thói quen sử dụng nhiều phân bón hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật. Khi chuyển sang sản xuất hữu cơ thì năng suất chắc chắn sẽ giảm sút rõ rệt do gặp khó khăn trong phòng chống sâu bệnh. Bên cạnh đó, chính sách, pháp luật để thúc đẩy, hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ phát triển ở nước ta còn thiếu. Hiện nay, nước ta chưa có chiến lược rõ ràng về phát triển nông nghiệp hữu cơ, chưa có tổ chức nào được cấp phép là tổ chức chứng nhận sản phẩm hữu cơ, kể cả việc áp dụng hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS mặc dù được IFOAM công nhận nhưng cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận chính thức để áp dụng.

"Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Tuy nhiên, ở nước ta, chính sách và pháp luật liên quan đến nông nghiệp hữu cơ còn thiếu và đây là nút thắt chính cần tháo gỡ để mở đường cho sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ trong những năm tới." - PGS.TS. Nguyễn Xuân Hồng khuyến nghị.

Đóng góp thêm về giải pháp, trong tham luận của mình, ông Hoàng Bá Nghị, Viện phó Viện Khoa học và CÔng nghệ MEKONG cho rằng, phải thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của "4 nhà": Nhà sản xuất, Nhà phân phối, Nhà nước, Nhà khoa học, đơn vị hỗ trợ. Ban đầu có sự hỗ trợ lớn của Nhà nước trong việc làm mô hình mẫu, xây dựng thương hiệu quốc gia, phát triển thị trường và sau đó nhân rộng mô hình ra cả nước. 

Theo ông Nghị lý giải, cần phải có sự tham gia đầu tư kinh phí hỗ trợ của Nhà nước trong giai đoạn đầu để thúc đẩy nhanh quá trình áp dụng phương thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Mặc dù ở giai đoạn đầu như chi phí đầu tư chính vẫn là của nhà sản xuất, nhà phân phối và sự tham gia hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo, hướng dẫn áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Sau đó toàn bộ chi phí sẽ do Nhà sản xuất và Nhà phân phối chia sẻ phù hợp.

(T.Hằng)