Cạnh tranh công nghiệp kém: Việt Nam sẽ mãi ở mức thu nhập trung bình

Đó là nhận định của GS Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu Chính sách quốc gia Nhật Bản (GRIPS) trước lo ngại về một nguy cơ bẫy thu nhập trung bình cho Việt Nam.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình

Theo GS Kenichi Ohno, Việt Nam cần một mô hình tăng trưởng mới để tránh bẫy thu nhập trung bình và tiếp tục phát triển trở thành quốc gia có thu nhập cao trong tương lai. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tăng trưởng của Việt Nam trước kia và hiện nay dường như chưa có chất lượng. Sau vài năm đạt được thu nhập trung bình thấp, bẫy thu nhập trung bình không còn là một nguy cơ xa xôi mà đã trở thành hiện hữu cho Việt Nam. Bằng chứng là tăng trưởng của Việt Nam đang chậm lại, năng suất sản xuất mờ nhạt, thiếu hụt của chuyện dịch cơ cấu theo đúng nghĩa, khả năng cạnh tranh trong bảng xếp hạng không có dấu hiệu tăng và xuất hiện các vấn đề do tăng trưởng gây ra. Đây không chỉ là những triệu chứng của riêng Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc gia láng giềng đã từng mắc phải.

“Không thể khẳng định tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại trong bao lâu nhưng tôi khẳng định nguyên nhân gây ra suy thoái cho Việt Nam là do cơ cấu chứ không phải là tình cờ ngẫu nhiên.” - GS Kenichi Ohno khẳng định.

Trước đây, Việt Nam có mức tăng trưởng mạnh mẽ là nhờ các bong bóng bất động sản và thị trường chứng khoán chứ không phải là tăng năng suất hay năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, trải qua giai đoạn với bong bóng bất động sản xì hơi, lạm phát, nợ xấu và mở rộng khoảng cách thu nhập và bất động sản... tốc độ tăng trưởng đã phải giảm xuống còn 5-6%. Với một nền kinh tế trẻ và có tiềm năng lớn cho phát triển, mức tăng trưởng dưới 5-6% cũng bị coi là khủng hoảng. Nếu tăng trưởng giảm sâu hơn nữa, Việt Nam sẽ phải đối mặt với già hóa, gánh nặng an sinh xã hội và các vấn đề xã hội khác mà không bao giờ đạt thu nhập cao.

Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam không tăng liên tục và đáng kể. Trong khi đó, tiền lương tại Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng và chuyển động tỷ giá là không đủ để bù đắp sự thiếu hụt của năng lực cạnh tranh. Trong những năm gần đây, tăng lương tại Việt Nam đã lớn hơn nhiều so với mức tăng năng suất lao động,Việt Nam đang trở thành nơi sản xuất với chi phí đắt đỏ hơn.

Có thể nói, hiện tượng tăng lương vượt xa mức tăng năng suất lao động không chỉ xảy ra tại Việt Nam mà còn có thể thấy ở nhiều quốc gia châu Á khác. Theo điều tra của JETRO với các doanh nghiệp FDI Nhật Bản, trong năm 2012, đã có 10 quốc gia châu Á có tốc độ tăng tiền lương hàng tháng của một công nhân nhà máy tới hơn 10% và Việt Nam dẫn đầu với mức tăng 21%, Myanmar là 18%, Indonesia 15,9%, Bangladesh 13,7%, Thái Lan 13,4%, Ấn Độ 13%. Điều này buộc các doanh nghiệp FDI phải tái xác định các quy trình sử dụng nhiều lao động hoặc khi có thể, tìm cách hướng tới các ngành thâm dụng vốn. Hiện khu vực FDI đang tập trung vào các ngành thâm dụng vốn và định hướng xuất khẩu cao hơn so với các khu vực trong nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước, nông nghiệp và doanh nghiệp tư nhân phi nông nghiệp.

Năng lực cạnh tranh giảm nhanh do mức tăng lương hơn so với năng suất là một triệu chứng điển hình của bẫy thu nhập trung bình. Điều này dẫn đến việc giảm công nghiệp hóa, cách đơn giản như lắp ráp, chế biến rời khỏi đất nước, đồng thời không có các ngành công nghiệp cao xuất hiện do thiếu các kỹ năng và công nghệ cần thiết. Tăng trưởng chậm lại ở mức thu nhập trung bình.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ (SMEs) Nhật Bản, Việt Nam đang được xem là điểm đến phổ biến trong nghiên cứu khả năng đầu tư ra nước ngoài của họ. Tuy nhiên, đồng thời với nhận thức cho rằng kinh tế Việt Nam đang xấu đi và nó không phát triển như kỳ vọng trước đó cũng sẽ nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản.

Tình trạng phản công nghiệp hóa

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang thiếu chuyển dịch cơ cấu theo đúng nghĩa. Dù đã có sự chuyển dịch đáng kể từ nông nghiệp sang công nghiệp trong hai thập kỷ qua song giá trị sản xuất gia tăng của Việt Nam vào GDP là 19,7% trong năm 2010, cao hơn so với những nước Nam Á như Ấn Độ và Pakistan nhưng thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia hay Indonesia. Tình trạng công nghiệp hóa hiện tại của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn nếu so sánh với các quốc gia Châu Á có năng suất thực hiện cao như Trung Quốc và Hàn Quốc. Hơn nữa, chuyển đổi cơ cấu của Việt Nam là hời hợt với động cơ chính của quá trình chuyển đổi là công ty nước ngoài chứ không phải các doanh nghiệp trong nước. Rõ ràng, công nghiệp được hình thành bởi một lượng lớn các công ty sản xuất nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, phần lớn được thu hút bởi lao động rẻ, vị trí tốt và nhu cầu trong nước tăng cao chứ không phải kỹ năng hay công nghệ địa phương.

Hiện xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được dẫn dắt và thúc đẩy bởi Samsung, Canon, Intel, Fujitsu và những thương hiệu tên tuổi lớn của nước ngoài khác cũng như các nhà sản xuất may mặc và da giày trong và ngoài nước. Tất cả đều là các ngành thâm dụng lao động trong khi Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, linh kiện công nghiệp và sản phẩm tiêu dùng nhập khẩu. Việc xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng lao động và nhập khẩu các nguyên liệu và sản phẩm công nghiệp tiên tiến hơn đã diễn ra trong 20 năm qua và không thay đổi nhiều.

Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam rõ ràng còn nhiều vấn đề bởi giá trị của ngành công nghiệp trong nước tạo ra vẫn thấp. Điển hình, với việc hiệu quả sản xuất xét trên khía cạnh giá trị gia tăng và xuất khẩu còn khiêm tốn so tiêu chuẩn khu vực Đông Á; trong khi đó, động cơ chính để tạo ra chuyển dịch cơ cấu và tạo ra giá trị vẫn là các doanh nghiệp FDI thay vì là các doanh nghiệp nội địa; xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu; sự kém phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực có kỹ năng...là những điểm yếu có thể chấp nhận được vào thời kỳ đầu những năm 1990 khi Việt Nam bắt đầu hòa nhập với kinh tế toàn cầu.

"Tuy nhiên, tình trạng này vẫn tiếp diễn sau 20 năm nỗ lực công nghiệp hóa thì đây thực sự là vấn đề nghiêm trọng. Khi việc hội nhập hoàn toàn vào khu vực Asean vào năm 2015, thậm chí các lĩnh vực nhạy cảm như ô tô cũng phải mở ra thị trường khu vực vào năm 2018, vấn đề thiếu khả năng cạnh tranh trên một phần của doanh nghiệp Việt Nam có thể gây ra tình trạng phản công nghiệp hóa khiến Việt Nam sẽ mãi ở mức thu nhập trung bình và không thể công nghiệp hóa theo đúng nghĩa." - GS Kenichi Ohno khuyến cáo.

Với tình trạng hiện tại của Việt Nam, khi mà giai đoạn đầu của công nghiệp hóa đã được hoàn thành dễ dàng và hiện đối mặt với tình trạng tăng trưởng chậm lại, mục tiêu chính sách quan trọng nhất là cần tạo ra đà tăng trưởng mới mà không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào mở rộng số lượng đầu vào lao động, số lượng doanh nghiệp, cơ hội thương mại, đầu tư trong nước, FDI, ODA hay dòng tài chính. Các yếu tố này cần được chuyển dịch từ việc dưa trên số lượng để hướng tới tăng trưởng dựa trên chất lượng. Như vậy, hai động lực cho hoạch định chính sách của Việt Nam cần tập trung vào tăng năng suất, sau đó là chuyển giao công nghệ liên kết FDI. Đầu tiên, cần nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn, hậu cần, marketing, xây dựng thương hiệu, phản hồi khách hàng...để Việt Nam trở thành một nhà sản xuất cạnh tranh với sản phẩm chất lượng cao thay vì hướng vào dòng sản phẩm giá rẻ nhưng chất lượng thấp hiện nay.

Chuyển sang giai đoạn cuối cùng của công nghiệp hóa là sự đổi mới, trong đó, Việt Nam không còn bắt chước chất lượng cao mà phải trở thành một nhà sáng tạo thực sự với các sản phẩm mới, theo quy trình hoặc dịch vụ chuẩn, tạo ra thu nhập và giá trị to lớn.

"Đối với Việt Nam, một quốc gia đang tăng trưởng dựa trên số lượng cho hai thập kỷ qua và đạt thu nhập trung bình thấp, mục tiêu chính sách lúc này nên đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng, không tiếp tục mở rộng công nghiệp dựa trên đầu vào lớn của vốn nước ngoài, lao động giá rẻ. Việt Nam cũng không nên nhấnn mạnh quá vào đổi mới, bởi đổi mới theo nghĩa hẹp sẽ chỉ tốt sau khi những thách thức hiện tại được khắc phục và Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình cao. Ngoài ra, năng suất lao động cũng là chìa khóa để Việt Nam xây dựng chính sách bởi nó liên quan trực tiếp đễn bẫy thu nhập trung bình và giảm công nghiệp hóa. Do đó, Chính phủ Việt Nam nên chú ý hơn đến sự dịch chuyển của tiền lương danh nghĩa trong mối quan hệ với năng suất lao động, để thực hiện một vòng xoáy lý tưởng theo xu hướng cả tiền lương và năng suất lao động cùng đi lên." - GS Kenichi Ohno cho biết.

(T.Hương)