Chậm cải cách ngân hàng và DNNN: Khó khôi phục tốc độ tăng trưởng cao

Việt Nam đang bước vào năm thứ ba ổn định kinh tế vĩ mô, với tỷ lệ lạm phát thấp hơn, các dòng vốn và xuất nhập khẩu mạnh hơn, và tỷ giá hối đoái ổn định hơn. Tăng trưởng GDP đã cải thiện trong năm 2013 và được kỳ vọng là tiếp tục hồi phục tốt hơn trong vòng 2 năm tới. Lạm phát được dự báo sẽ tiếp tục kiềm chế tương đối ổn định. Tuy nhiên, khả năng khôi phục tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như những năm trước đây vẫn còn hạn chế, do tiến trình cải cách ngân hàng và các doanh nghiệp nhà nước đang diễn ra thận trọng.

Chậm cải cách ngân hàng và DNNN: Khó khôi phục tốc độ tăng trưởng cao

Đó là nhận định của ông Dominic Mellor, Chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại buổi họp báo Cập nhật tình hình kinh tế Châu Á diễn ra hôm nay, ngày 1/4.

Lãi suất có thể tăng trở lại vào năm sau

Tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy nhờ vào các nỗ lực đẩy nhanh việc triển khai các chương trình hỗ trợ đang diễn ra rất chậm chạp, điển hình là gói hỗ trợ tín dụng nhà ở trị giá 1,4 tỷ USD (30 nghìn tỷ đồng) công bố đầu năm 2013. Tính đến tháng 2 năm 2014, tỷ lệ giải ngân của gói hỗ trợ tín dụng này mới đạt khoảng 4%.

Về chính sách tiền tệ, để giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam - cơ quan ngân hàng trung ương - đã cắt giảm 2% các lãi suất chính sách, tiếp theo các đợt cắt giảm tới 6% trong năm 2012. NHNN cũng hạ trần đối với một số lãi suất huy động và cho vay. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng còn chậm cho đến tận cuối năm 2013, khi một số ngân hàng tăng tín dụng tạm thời để thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 12%. Tăng trưởng tín dụng vẫn bị kìm hãm do sự không chắc chắn về tình trạng nợ xấu, tốc độ cải cách ngân hàng chậm chạp và cầu tín dụng yếu ớt.

NHNN tiếp tục cắt giảm các lãi suất chính sách thêm 0,5% vào tháng 3 năm 2014, đưa mức lãi suất tái cấp vốn xuống còn 6,5% và lãi suất chiết khấu là 4,5%. NHNN cũng đã hạ trần đối với một số lãi suất huy động và cho vay. Để thực hiện chỉ tiêu lạm phát 7%, NHNN đã đề ra chi tiêu tăng trưởng tín dụng 12-14% và tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán 16-18%; các chỉ tiêu này đều tăng nhẹ so với chỉ tiêu năm 2013.

Theo ông Dominic, lãi suất đang thực dương và khó có thể cắt giảm lãi suất thêm nữa. Có thể nói, chính sách tiền tệ đã ít dư địa để khai thác trong thời gian tới. Với lãi suất theo chính sách đã ở mức khá thấp trong chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ vừa qua, sẽ không còn nhiều khả năng để có sự hỗ trợ từ chính sách tiền tệ. Lãi suất có thể tăng trở lại vào năm sau. Việt Nam đang kích tăng trưởng tín dụng nhưng chưa đạt được kết quả như mong đợi mà nguyên nhân là do phía cầu chứ không xuất phải từ nguồn cung. Hiện nay, ngân hàng khó tìm được DN có khả năng kinh doanh tốt để cho vay. Mặt khác, khả năng mở rộng kinh doanh của DN còn thấp nên đã kiềm giữ tăng trưởng tín dụng ở mức thấp. Đầu tư tư nhân trong nước sẽ vẫn đình trệ do những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng. Tăng trưởng tiêu dùng tư nhân sẽ được lợi từ mức lạm phát thấp hơn, tuy nhiên thị trường lao động và niềm tin người tiêu dùng đều đang rất yếu ớt.

Ngoài ra, việc nới room của nhà đầu tư nước ngoài lên 30% là đúng. Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn coi Việt Nam là thị trường hấp dẫn với cơ hội làm ăn lâu dài nên tgian tới sẽ có nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường. Ở chiều ngược lại, các NHTM cũng muốn thu hút thêm nhà đầu tư chiến lược, tuy nhiên muốn trở thành nhà đầu tư chiến lược thì phải nới rộng trần hơn nữa. Đây là nhu cầu bức thiết trong bối cảnh Việt Nam đang tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

GDP được dự báo tăng nhẹ

Tốc độ giải ngân mạnh từ vốn đầu tư nước ngoài đã cam kết, đặc biệt của các nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ thúc đẩy đầu tư vào ngành chế tạo công nghệ cao. Bên cạnh đó, triển vọng kinh tế sáng sủa hơn ở Hoa Kỳ và khu vực đồng euro - hai thị trường chính của Việt Nam - cho thấy Việt Nam có thể duy trì được tăng trưởng xuất khẩu hiện nay. Xuất khẩu cà phê sẽ hưởng lợi do cầu thế giới đối với cà phê sẽ mạnh hơn trong năm 2014 và các ngành công nghiệp chế tạo định hướng xuất khấu sẽ tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, tăng trưởng trong ngành chế tạo các sản phẩm công nghệ cao cũng làm tăng nhập khẩu, bởi nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất này vẫn chủ yếu nhập từ nước ngoài.

Số liệu của Quý I năm 2014 cho thấy GDP tăng trưởng 5%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 6% trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3, công nghiệp và xây dựng tăng 4,7%, nông nghiệp tăng 2,4%. Về tình hình sản xuất chế tạo đầu năm, dấu hiệu ban đầu từ chỉ số quản lý mua hàng trong tháng 2 cho thấy sản lượng tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại và ở mức thấp nhất trong vòng 4 tháng qua.

Trên cơ sở cân nhắc những yếu tố này, tăng trưởng GDP được dự báo sẽ tăng nhẹ, đạt mức 5,6% trong năm 2014 và tiếp tục tăng lên 5,8% trong năm 2015 cùng với sự phục hồi kinh tế ở Hoa Kỳ và khu vực đồng euro và các bước tiến trong việc khắc phục những yếu kém trong hệ thống ngân hàng nội địa.

Lạm phát được kỳ vọng giữ ở mức bình quân 6,2% trong năm 2014, với giả định rằng sản lượng lương thực tương đối ổn định, chính phủ áp dụng các biện pháp kích thích kinh tế ở mức vừa phải, tiền Đồng được điều chỉnh tỷ giá nhẹ. Lạm phát đã giảm xuống mức 4,4% trong tháng 3/2014. Các thay đổi về giả định, hoặc sự tăng giá mạnh đột ngột đối với những hàng hóa và dịch vụ được trợ giá, sẽ dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao hơn. Lạm phát được dự báo sẽ ở mức bình quân 6,6% trong năm 2015, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh hơn.

Tình trạng thặng dư của cán cân thương mại và cán cân vãng lai sẽ tiếp tục duy trì cho thời kỳ dự báo, nhưng mức độ thặng dư sẽ thu hẹp so với năm 2013. Tỷ giá hối đoái tương đối ổn định kể từ tháng 4 năm 2011 đã cải thiện các đánh giá, cảm nhận về tiền Đồng, nhưng một số đợt người dân đổ xô mua trữ vàng và ngoại tệ cho thấy tâm lý đối với tiền Đồng vẫn còn bấp bênh. Giá vàng trong nước cao hơn quốc tế cho thấy các nhà đầu tư vẫn coi vàng là một kênh quan trọng để phòng ngừa rủi ro lạm phát. Mục “sai số và bỏ sót” trong thống kê cán cân thanh toán đã tăng tới mức ước tính 6% GDP trong năm 2013, điều này có thể phản ánh khối lượng lớn vàng nằm ngoài hệ thống ngân hàng.

Vẫn thận trọng trong cải cách thị trường tài chính - ngân hàng

Khả năng đưa nền kinh tế trở lại tốc độ tăng trưởng cao của những năm trước bị hạn chế bởi tiến độ thận trọng của cải cách hệ thống ngân hàng và DNNN. NHNN đã tăng cường giám sát hoạt động cho vay của các ngân hàng, sáp nhập và tái cơ cấu một số ngân hàng yếu kém và nới lỏng các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài vào ngân hàng trong nước. Sau một năm trì hoãn, các chuẩn mực mới về phân loại nợ và dự phòng nhằm tiệm cận các chuẩn mực quốc tế sẽ bắt đầu có hiệu lực vào tháng 6/2014.

Trước lo ngại việc trì hoãn thực hiện Thông tư 02 có thể làm chậm quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ông Dominic Mellor cho rằng: Càng trì hoãn Thông tư 02 thì hệ thống ngân hàng càng rủi ro cao. Rõ ràng là khó có thể thay đổi mọi thông lệ ở Việt Nam trong một sớm một chiều. Để các quy định của Việt Nam tiệm cận chuẩn quốc tế phải mất thời gian và có lộ trình. Chúng tôi giả định rằng về lý thuyết, các NHTM sẽ sử dụng dư địa còn lại của Thông tư 02 để lợi dụng, giấu đi tín dụng rủi ro và nợ xấu của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, các NHTM cũng sợ nợ xấu nên sẽ dè dặt hơn trong việc cho vay. Tôi không cho rằng trì hoãn Thông tư 02 thêm 6 tháng nữa lại có tác động tiêu cực đến quá trình tái cơ cấu ngân hàng.

Tuy nhiên, các chuẩn mực mới ban hành lại không yêu cầu cao như dự định ban đầu, và sự chậm trễ tiếp theo ảnh hưởng đến một số biện pháp quan trọng như yêu cầu điều chỉnh phân loại nợ dựa trên các dữ liệu từ trung tâm thông tin tín dụng. Ngoài ra, các ngân hàng sẽ tiếp tục được linh hoạt trong tái cấu trúc các khoản nợ quá hạn và có quyền quyết định không tuyên bố chúng là nợ xấu. Để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu, có thể cần đặt ra các chỉ tiêu cụ thể và thời hạn để thu hẹp khoảng cách giữa quy định của quốc gia với các chuẩn mực quốc tế.

Trong năm 2014, VAMC dự định mua tương đương 4,8 tỷ USD nợ xấu từ các ngân hàng. Một số thách thức mà VAMC đang đối mặt là xây dựng đủ năng lực để tiến hành các hoạt động tái cơ cấu nợ phức tạp và thực thi nhiệm vụ của mình với số vốn ban đầu ít ỏi 24 triệu USD. Các cơ chế hiệu quả để định giá và đấu giá nợ xấu cũng như đấu giá các tài sản thế chấp vẫn chưa được ban hành. Ngoài ra, cần sửa đổi khuôn khổ quản lý nhà nước và pháp luật phá sản để VAMC có thể xử lý nợ và tài sản thế chấp liên quan một cách kịp thời.

Khi các ngân hàng xử lý nợ xấu, họ sẽ vẫn cần bơm thêm vốn, tuy nhiên vẫn còn chưa rõ khi nào họ sẽ được tái cấp vốn và bằng cách nào. Việc tái cấp vốn cho các ngân hàng và cải cách DNNN cần được tiến hành đồng thời với việc xử lý nợ xấu.

Về cải cách DNNN, Chính phủ đặt ra mục tiêu cổ phần hóa 432 DNNN trong giai đoạn 2014-2015. Trong giai đoạn 2011-2013 chỉ có 99 DNNN được cổ phần hóa. Thị trường chứng khoán trong nước đã tăng và đẩy chỉ số giá cổ phiếu tăng 30% trong khoảng thời gian từ tháng 8/2013-tháng 3/2014. Nhưng tổng mức vốn hóa của thị trường chứng khoán vẫn còn khá nhỏ so với lượng vốn cần thiết để đảm bảo sự thành công của chương trình cổ phần hóa.

Tuy nhiên, theo nhận định của chuyên gia kinh tế ADB, với bối cảnh như hiện nay, cổ phần hóa các DNNN của Chính phủ Việt Nam là một Chương trình đầy tham vọng khi mà các nhà đầu tư còn chưa chắc chắn vào tiềm năng thị trường, cũng như quy mô thị trường tài chính của Việt Nam còn hẹp... Họ vẫn dự đoán dè dặt về chương trình cổ phần hóa DNNN. Chính phủ cũng đã chấp thuận việc bán cổ phần dưới mệnh giá, điều này có thể tạo điều kiện cho việc thiết lập giá bán ở mức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Chỉ đến khi đó mới  có thể kích thích nhà đầu tư tham gia vào thị trường.

Ngoài ra, theo ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc Ngân hàng ADB tại Việt Nam, quá trình cổ phần hóa cũng như thoái vốn khỏi các ngành nghề kinh doanh cốt lõi chỉ là biện pháp thực hiện mục tiêu cải cách DNNN trong việc nâng cao hiệu quả của các DN. Nếu cổ phần hóa chỉ để cổ phần hóa thì không có tác dụng gì đáng kể mà điểm quan trọng là cổ phần hóa phải giúp cải thiện quản trị doanh nghiệp. Chúng ta có thể đo lường khả năng thành công của quá trình cổ phần hóa bằng số lượng DN cổ phần hóa hoặc khối lượng thoái vốn khỏi hoạt động kinh doanh không cốt lõi... Tuy nhiên, điều quan trọng là nếu các DNNN không tái cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của mình một cách có hiệu quả hơn thì không nhà đầu tư nào quan tâm đến cổ phần của các DNNN Việt Nam.

(T.Hương)