Chậm cải cách: Tăng trưởng của Việt Nam sẽ tiếp tục bị kìm hãm

Việt Nam là một đất nước được thừa hưởng rất nhiều lợi thế. Cần cấp bách thúc đẩy tốc độ cải cách cơ cấu để hoàn toàn gặt hái được tăng trưởng tiềm năng khi cơ cấu dân số đang thuận lợi. Ngược lại, nếu thiếu những cải cách này, tăng trưởng sẽ tiếp tục bị kìm hãm bởi năng suất thấp, phân bổ sai nguồn lực, sự yếu kém của khu vực công - từ cùng các ngân hàng và doanh nghiệp.

Ông Sanjay Kalra, Đại diện Thường trú của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam.Ông Sanjay Kalra, Đại diện Thường trú của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam.

Tăng trưởng hồi phục chậm

Đó là khẳng định của ông Sanjay Kalra, Đại diện Thường trú của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam .Theo ông Sanjay Kalra, sự ổn định kinh tế vĩ mô bắt đầu bằng Nghị quyết 11 vào đầu năm 2011 đã mang lại kết quả. Đến nay trong  một thời gian khá dài, lạm phát đã ở mức một con số (theo cơ sở 12 tháng), tỷ giá đã ổn định và dự trữ quốc tế đã tăng lên ở mức khá hơn. Thị trường tài chính cũng đã “êm ả”.
 
Tăng trưởng hồi phục nhưng tình hình kinh tế trong nước vẫn còn yếu. Sự hồi phục chậm dường như đang diễn ra. Hiện nay, tăng trưởng được hỗ trợ phần lớn bởi khu vực xuất khẩu và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Các khu vực hướng nội dù đang cải thiện nhưng vẫn chưa có được một nền tảng vững chắc. Có một số dấu hiệu cho thấy sự hồi phục về tiêu dùng và đầu tư xét về bên cầu, còn về bên cung thì cũng có một số dấu hiệu sớm của sự hồi phục ở một số khu vực, kể cả khu vực bất động sản mà từng lâm vào hoàn cảnh khó khăn do hậu quả của bong bóng giá bất động sản.
 
Tăng trưởng chậm đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền đối với thâm hụt ngân sách làm cho thâm hụt ngân sách tăng lên. Với thâm hụt ngân sách cao hơn như vậy và việc dùng ngân sách thanh toán những khoản nợ dự phòng, nợ công và nợ do Chính phủ bảo lãnh (PPG) tính theo phần trăm GDP đã tăng lên mạnh trong những năm gần đây.
 
Mặt khác, mặc dù một số bước đã được thực hiện để thúc đẩy cải cách khu vực ngân hàng song cải cách cơ cấu được đại diện IMF đánh giá là còn chậm. Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC) đã đi vào hoạt động và kể từ đó đã hoán đổi nợ xấu của các ngân hàng lấy trái phiếu VAMC. Nỗ lực tái cơ cấu cũng đang được tiến hành tại một số ngân hàng thương mại. Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang có những tiến bộ. Tuy nhiên, những điểm yếu ở khu vực tài chính tiếp tục cản trở trung gian tín dụng và cùng với DNNN vẫn là các nguồn dễ bị tổn thương. Sự hạn chế về số liệu và những thách thức trong khuôn khổ pháp lý và giám sát tiếp tục cản trở việc có một đánh giá đáng tin cậy về nợ xấu và an toàn vốn trong hệ thống tài chính.
 
Trong khi đó, triển vọng tăng trưởng toàn cầu vẫn ảm đảm và việc giảm giá dầu đáng kể mang lại rủi ro đối với thu ngân sách. Tăng trưởng toàn cầu yếu có thể tác động tới Việt Nam, trong khi tính không chắc chắn tăng cao hay sự biến động mới liên quan tới điều kiện tài chính toàn cầu có thể dẫn đến luồng vốn chảy ra và làm suy yếu dự trữ. Việt Nam có ít không gian chính sách để chống lại những cú sốc bên ngoài. Do đó, Chính phủ cần hướng nỗ lực tới việc tái xây dựng dự phòng trong và ngoài nước.
 
Ổn định kinh tế vĩ mô phải được duy trì
 
“Mặc dù tỷ lệ lạm phát hiện nay thấp, việc tiếp tục cắt giảm lãi suất chính sách rất có thể có ít tác động trong khi những yếu kém của khu vực ngân hàng vẫn tồn tại. Mức dự trữ quốc tế đã tăng lên nhưng vẫn còn dưới mức đủ để đối phó với các cú sốc lớn bên ngoài. Còn với chính sách tài khóa, hiện nay, Chính phủ cần thiết lập lại việc củng cố tài khóa. Về thu ngân sách, có thể mở rộng cơ sở thuế, duy trì yêu cầu các DNNN có lãi trả cổ tức và thắt chặt quản lý. Các khoản chi về xã hội cần được duy trì trong khi ưu tiên đầu tư công và giữ đầu tư này ở mức bền vững. Ngân sách nhà nước cần có dự trữ để xử lý nợ dự phfong liên quan đến các cải cách cơ cấu.” - Ông Sanjay nhấn mạnh.
 
Đặc biệt, cải cách cơ cấu phải được tăng tốc mạnh khi mà chính sự chậm trễ này đang làm suy yếu lòng tin, làm cho nợ công tăng cao hơn, kéo dài sự trì trệ về năng suất có nhiều năm qua… khiến kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức không đủ để tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động ngày càng tăng.
 
Trong khi cải cách cơ cấu, cải cách khu vực ngân hàng được cho là cần ưu tiên hàng đầu. Việc xử lý các yếu điểm liên quan đến chất lượng tài sản, nợ xấu, trích lập dự phòng và tăng vốn là quan trọng để tạo ra một môi trường trong đó các ngân hàng làm trung gian chuyển tiết kiệm của quốc gia cho đầu tư sản xuất. Việc phân tích rủi ro tín dụng và quản trị tại các ngân hàng có thể được tăng cường. Riêng VAMC nên đẩy nhanh xử lý và giải quyết nợ xấu. Nói rộng hơn, thị trường vốn cso thể được tiếp tục phát triển để bổ sung cho hệ thống ngân hàng, mang lại cơ hội sinh lời khác cho các nhà đầu tư và thu hút các dòng vốn gián tiếp nước ngoài ổn định.
 
Tiếp sau đó, việc cải cách của các DNNN và tập đoàn kinh tế có ý nghĩa rất lớn với nền kinh tế. Trong đó, công khai điều kiện tài chính chân thực của DNNN/TĐKT, bao gồm cả những DNNN cổ phần hóa vẫn rất quan trọng. CÁc kế hoạch tái cơ cấu của DNNN/TĐKt có thể được công bố để đánh giá khả năng mang lại quản trị tốt hơn, năng lực tài chính và tính hiệu quả.
 
(T.Hương)