Chi phí tiếp cận tài chính làm "nhụt chí" doanh nghiệp Việt Nam

Chi phí phi chính thức và tiếp cận tài chính vẫn là một trong những vấn đề nghiêm trọng, trong đó, xu hướng gia tăng yêu cầu thủ tục, các điều kiện về gia nhập thị trường cao hơn, làm tinh thần kinh doanh của doanh nhân cũng có sự giảm sút.
Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Môi trường kinh doanh không được cải thiện

Theo Báo cáo “Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) năm 2013” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Tổng cục Thống kê (GSO) và Trường Đại học Copenhagen (UoC) phối hợp thực hiện, khoảng 70% các doanh nghiệp được khảo sát nói rằng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn có ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện kinh doanh năm 2013 và chỉ có 15% doanh nghiệp không cảm thấy những tác động tiêu cực của khủng hoảng năm 2007/2008 (được báo cáo trong năm 2011 hoặc 2013). Trong khi đó, các doanh nghiệp siêu nhỏ ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng hơn so với các doanh nghiệp lớn, so sánh năm 2011 và 2013, tổng lao động giảm 7,4%.

Báo cáo cũng cho rằng, môi trường kinh doanh về tổng thể dường như không được cải thiện so với giai đoạn khảo sát trước. Chi phí phi chính thức và tiếp cận tài chính vẫn là một trong những vấn đề nghiêm trọng, tương tự như tình hình của giai đoạn 2009-2011. Tỷ lệ doanh nghiệp có chi phí phi chính thức năm 2013 cao hơn năm 2011 và tương tự như năm 2009.

Giáo sư John Rand cho biết, theo các doanh nghiệp, các khoản chi phí phi chính thức này là để nhằm đối phó với cơ quan, người thu thuế cũng như kết nối với dịch vụ công.  Tuy nhiên, dữ liệu điều tra cho thấy doanh nghiệp hối lộ có xác suất ra khỏi thị trường lớn hơn. Do vậy, chiến dịch thông tin về các tác động tiêu cực của tham nhũng có thể cần thiết để giảm áp lực chi phí phi chính thức đối với cả phía cung và phía cầu.

Tỷ lệ đổi mới giảm mạnh so với năm 2011, kể cả về giới thiệu sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm hiện có. Đặc biệt, các doanh nghiệp siêu nhỏ nông thôn là động lực chính của sự suy giảm này. Kết quả điều tra cho thấy, sự suy giảm này có thể là một vấn đề đối với tính năng động trong tương lai, do đổi mới thông qua việc cải tiến sản phẩm hiện có quan hệ thuận chiều đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, các chính sách cần hướng trọng tâm đến nâng cao năng lực sáng tạo của các DNNVV.

Cần bớt lạm dụng việc "quản, kiểm"

TS Nguyễn Đình Cung cho rằng, từ sau năm 2013 trở lại đây đang có những thay đổi để tạo ra một nền tảng rất vững chắc hướng tới bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho môi trường kinh doanh Việt Nam. Sắp tới Quốc hội sẽ ban hành một loạt những Luật theo xu hướng giảm chi phí, giảm rủi ro, tạo thuận lợi cho người dân. Ví dụ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sắp tới bỏ trần khống chế về 15% thuế quảng cáo, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư thể hiện tinh thần tự do kinh doanh. Đáng chú ý là Nghị quyết số 19 của Chính phủ đã đặt ra hàng loạt các giải pháp trong đó ưu tiên việc giảm chi phí, giảm rủi ro cho DN và đang thực hiện quyết liệt.

TS Cung đề xuất cần thay đổi nhiều hơn, đặc biệt trong bộ máy nhà nước ở các địa phương theo hướng bớt đi lạm dụng việc “quản, kiểm”. Thay vào đó các cơ quan Nhà nước phải thay đổi thái độ làm việc sang hướng thúc đẩy, hỗ trợ, khuyến khích, đồng hành cùng DN tháo gỡ, cùng giải quyết khó khăn. “Sự thay đổi tư duy của các cơ quan quản lý các cấp thì tôi hy vọng đợt điều tra sau sẽ có kết quả tốt hơn.”

Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp nhỏ và vừa  trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy nhu cầu doanh nghiệp nhỏ và vừa cần hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng chiếm 66% tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa  có nhu cầu về tiếp cận vốn tín dụng, trong đó nhu cầu bảo lãnh tín dụng là: 37%. Nhu cầu h trợ mặt bằng sản xuất: 51% doanh nghiệp có nhu cầu về mặt bằng sản xuất, trong đó 30% đang rất cần sự hỗ trợ về địa điểm kinh doanh. 65,8% doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp của mình thông qua các chương trình như: Đào tạo theo các chương trình hỗ trợ của nhà nước: 49,3 %; đào tạo tại các cơ sở đào tạo: 11%; theo chương trình liên kết đào tạo giữa các doanh nghiệp: 5,6%. Trong nhu cầu hỗ trợ  tư vấn, cung cấp các  thông tin về  xúc tiến mở rộng thị trường; thông tin tư vấn ứng dụng kỹ thuật  khoa học và chuyển giao công nghệ: nhu cầu cần tìm hiểu về thông tin cho hoạt động sản xuất kinh doanh (chiếm 67%), thông qua các kênh cung cấp như sau: phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo, đài, ti vi) (chiếm 18%); mạng internet: (chiếm 39%); khách hàng, nhà cung cấp (chiếm 25%); các cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp như cơ quan đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan…, (chiếm 21%); dịch vụ tư nhân (chiếm 7%).  49,7% các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần đến sự hỗ trợ của nhà nước vào các vấn đề sau: Hỗ trợ thông tin tư vấn, đánh giá về công nghệ cho doanh nghiệp: 32,3%; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và mua sắm, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp: 17,3%.

Việc triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua cho thấy, chính sách trợ giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa còn ở mức thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa  tham gia và thụ hưởng các chương trình hỗ trợ chính sách của Nhà nước ít. Tác động hoạt động trợ giúp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa còn ở mức khiêm tốn. Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa  còn phân tán, trình tự thủ tục để thụ hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa …Ngoài ra, hoạt động của mỗi doanh nghiệp, tổ chức lại hạn chế và sự phối hợp còn chưa nhịp nhàng, dẫn đến tình trạng các chính sách hỗ trợ thì nhiều nhưng hiệu quả mang lại chưa cao.

Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa  ra đời sẽ tạo các điều kiện phát huy, phát triển đội ngũ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí là các doanh nghiệp siêu nhỏ cả về số lượng và chất lượng góp phần giúp doanh nghiệp dễ  tiếp cận vốn, lãi suất, thuế, mặt bằng, đào tạo nguồn lực...  Đồng thời sẽ tạo sự thống nhất giữa Trung ương và địa phương, trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa  từ tổ chức bộ máy, hạ tầng, cơ sở vật chất, nguồn vốn… tránh lãng phí nguồn lực. 

Luật hỗ trợ  doanh nghiệp nhỏ và vừa  ra đời sẽ không chỉ góp phần nâng tầm vị thế đóng góp của lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

(T.Hương)