Chỉ số DoingBusiness 2015 của Việt Nam có thể bị đánh tụt

Theo nhóm chuyên gia môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, chỉ số môi trường kinh doanh năm 2015 của Việt Nam theo cách tính mới sẽ tụt xuống vị trí 78 thay vì ở mức 72 vào năm 2014.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Nhiều điểm mới trong DoingBusiness 2015

Tại Hội thảo "Thực hiện Nghị quyết số 19: Cải thiện chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam", TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cho biết: Nghị quyết 19/2014/NQ-CP đặt ra mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam bằng cách cắt giảm chi phí, thời gian và rủi ro cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Nhằm tối đa hóa lực đẩy cho đến thời điểm này của Nghị quyết về việc nâng các chỉ số cạnh tranh chính của Việt Nam ngang bằng mức trung bình của khu vực, Văn phòng Chính phủ đang đánh giá các mục tiêu cải cách này để hướng tới các kế hoạch cải cách sâu rộng hơn.

Từ năm 2014, Dự án USAID GIG đã phối hợp với CIEM và các cơ quan Nhà nước liên quan gồm Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Bảo hiểm Xã hội và Tổng Công ty Điện lực EVN để cải thiện mạnh mẽ 3 chỉ số liên quan đến nôp thuế, thương mại xuyên biên giới và tiếp cận điện. Dự án USAID GIG tiếp tục hỗ trợ giúp Việt Nam cải thiện các chỉ số còn lại như tiếp cận vốn, bảo hộ nhà đầu tư thiểu số, bảo vệ quyền sở hữu, phá sản.

Trong khuôn khổ Chiến lược hợp tác Phát triển Quốc gia của USAID tại Việt Nam cho giai đoạn 2014 - 2018, USAID đang cùng với Chính phủ Việt Nam, các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức xã hội năng động tạo ra sự tăng trưởng toàn diện hơn cho Việt Nam đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản trị nhà nước đối với người dân.

Nhóm chuyên gia môi trường kinh doanh của WB chỉ ra rằng, làm kinh doanh chỉ ra mức độ khó hoặc dễ đối với chủ doanh nghiệp trong nước trong việc thành lập và vận hành một doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa theo các quy định của pháp luật. Nó đo lường và theo dõi những thay đổi trong các quy định có ảnh hưởng đến 11 lĩnh vực trong vòng đời của một doanh nghiệp: thành lập, giải quyết giấy phép xây dựng, tiếp cận điện, bảo hộ nhà đầu tư thiểu số, nộp thuế, thương mại xuyên biên giới, thực hiện hợp đồng, phá sản và pháp luật thị trường lao động.

Với 10 chỉ số/ lĩnh vực theo các quy định của pháp luật trong vòng đời của một doanh nghiệp nhỏ hặc vừa như thành lập, giải quyết giấy phép xây dựng, tiếp cận điện, nộp thuế, thương mại  xuyên biên giới, thực hiện hợp đồng và pháp luật thị trường lao động. Báo cáo “làm kinh doanh” năm nay của Ngân hàng Thế giới có bổ sung dữ liệu và phương pháp mới liên quan đến các chỉ số cấp phép xây dựng, bảo hộ nhà đầu tư thiểu số và thực hiện hợp đồng.

Báo cáo Môi trường kinh doanh bổ sung thêm một thành phố cho 11 nền kinh tế có số dân trên 100 triệu người. 11 nền kinh tế này gồm có Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Mehico, Nigieria, Pakistan, Liên bang Nga và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Việc bổ sung thêm một thành phố cho phép có sự so sánh trong một quốc gia và cơ sở đối chiếu với những thành phố lớn khác.

Ngoài ra còn mở rộng phạm vi của 03 bộ chỉ số: giải quyết tình trạng phá sản, bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ và tiếp cận tín dụng. Theo đó, chỉ số về giải quyết tình trạng phá sản sẽ đo lường quyền của chủ nợ hoặc đối tượng vay nợ đối với việc mở thủ tục thanh lý, thủ tục tái cấu trúc hoặc cả hai, và tiêu chuẩn được sử dụng để xác định tình trạng phá sản của một đối tượng vay nợ. Cũng như điều gì sẽ xảy ra đối với những hợp đồng của một đối tượng vay nợ trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản, có cho phép cứu trợ tài chính sau khi đã bắt đầu thủ tục phá sản hay không và các quyền ưu tiên đối với chủ nợ cung cấp cứu trợ tài chính sau khi đã bắt đầu thủ tục phá sản; Phạm vi tham gia vào thủ tục phá sản của nhóm các chủ nợ, và quyền khởi kiện và phản đối của từng chủ nợ đơn lẻ đối với quyết định ảnh hưởng tới quyền lợi của họ.

Về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ tập trung vào quyền và vai trò của cổ đông trong những quyết định quan trọng của công ty; Cơ cấu quản trị - mức độ mà tại đó luật yêu cầu sự tách biệt giữa một số các bộ phận của công ty để giảm thiểu khả năng mâu thuẫn trong công ty; Tính minh bạch - mức độ thông tin tài chính mà các công ty buộc phải công bố; Phân bổ chi phí pháp lý - mức độ thu hồi chi phí liên quan tới kiện cáo do các cổ đông đứng tên từ công ty, hay khả năng thanh toán các chi phí đối với một vụ kiện thành công.

Thêm nữa, xếp hạng chỉ số thuận lợi kinh doanh cũng như xếp hạng ở tất cả các chủ đề - cấp độ giờ đây được tính toán trên cơ sở khoảng cách đến các nền kinh tế dẫn đầu. Đối với 11 nền kinh tế với số dân hơn 100 triệu, dữ liệu cho thành phố thứ hai được bổ sung vào bộ dữ liệu và tính toán thứ hạng. Các nền kinh tế này gồm có Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Mexico, Nigeria, Pakistan, Liên bang Nga và Mỹ. 

Về nộp thuế, các biến số của báo cáo tài chính đã được cập nhật để cân xứng với thu nhập theo đầu người năm 2013; trước đó cân xứng với thu nhập theo đầu người năm 2005. Về thực hiện hợp đồng, giá trị khiếu nại giờ đây được đề ra ở mức gấp hai lần thu nhập theo đầu người hoặc 5.000 USD, số nào lớn hơn thì chọn. Về giải quyết thủ giấy phép xây dựng, chi phí xây dựng giờ đây được đề ra ở mức gấp 50 lần thu nhập đầu người. Ngoài ra, bộ chỉ số này đã lược bỏ các thủ tục xin kết nối đường dây điện thoại cố định.

Chưa theo kịp các nước bạn

Việt Nam đã có tín hiệu cải thiện chỉ số Cấp phép xây dựng khi so với các quốc gia trong ASEAN-6, Việt Nam hiện đang được đánh giá xếp hạng thứ 3 về chỉ số Xin giấy phép xây dựng (dealing with construction permits), sau Singapore và Thái Lan.  Về điểm số, Việt Nam tăng 0.08% so với năm 2014 (83.58). Như vậy, những quy định của Việt Nam theo Báo cáo MTKD 2015 về Cấp phép xây dựng (cụ thể là một nhà xưởng) ở mức cạnh tranh trung bình tốt. Tuy nhiên, thời gian để thực hiện thủ tục này lại tương đối dài so với các quốc gia trong ASEAN-6, và đặc biệt gấp 4 lần so với Singapore, cao hơn gần gấp hai so với Brunei và Indonesia.  Phí cấp giấy phép xây dựng theo giá trị tài sản cao gấp 7 lần so với Singapore, Brunei và gấp 3 lần so với Thái Lan.

Điểm ưu việt của Singapore, quốc gia xếp hạng thứ nhất trong khối ASEAN-6 (và cũng đứng thứ 2 trên thế giới) là doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin trên mạng và đăng ký trực tuyến, thanh toán qua mạng mà không phải trực tiếp đến các cơ quan liên quan. Do đó, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục rất nhiều so với Việt Nam và các quốc gia khác.

Về chỉ số đăng ký tài sản (Registering Property), so với các quốc gia trong ASEAN-6, Việt Nam hiện đang được đánh giá xếp hạng thứ 3, sau Singapore và Thái Lan.  Về điểm số, Việt Nam hầu như không có thay đổi so với năm 2014 (81.43). Như vậy, những quy định của Việt Nam trong việc Đăng ký tài sản (cụ thể là một nhà xưởng) ở mức cạnh tranh trung bình tốt với số lượng thủ tục ít (04) và chi phí thấp nhất (0,6%).  Tuy nhiên, thời gian để thực hiện 04 thủ tục này gần như dài nhất so với các quốc gia trong ASEAN-6 (sau Brunei với 298 ngày), và đặc biệt gấp rất nhiều lần so với Singapore và Thái Lan. Tại Singapore, doanh nghiệp cũng phải thực hiện 4 thủ tục tương tự như Việt Nam, song có thể tìm kiếm trên mạng và đăng ký trực tuyến, thanh toán qua mạng mà không phải trực tiếp đến các cơ quan liên quan. Tại Thái Lan, doanh nghiệp phải đến Cơ quan đất đai để đăng ký nhưng được thụ lý ngay và chỉ mất 1 ngày để nhận lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Việt Nam đã cải thiện hệ thống thông tin tín dụng quốc gia bằng cách thiết lập một cơ quan thông tin tín dụng mới. Đồng thời, Việt Nam đã giúp các công ty giảm bớt chi phí thuế bằng cách giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp.Trong bảng tổng sắp của toàn bộ 189 nền kinh tế, Việt Nam được xếp hạng 36 về khả năng dễ dàng khi tiếp cận tín dụng. Nhưng rõ ràng thứ tự xếp hạng này chưa phản ánh đúng mức thực trạng vô cùng khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp của Việt Nam. Trong bảng xếp hạng của WEF, các doanh nghiệp được hỏi vẫn xếp khả năng tiếp cận tín dụng là 1 trong những khó khăn hàng đầu khi kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam.

Từ góc độ các quy định và các thể chế của Nhà nước, trong các báo cáo của Doing Business cũng như của WEF cũng đề cập tới các nỗ lực gần đây về phía cơ quan chính phủ của Việt Nam trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, ví dụ như các nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu, minh bạch hóa các thông tin về tổ chức tín dụng và người vay vốn, giới thiệu các thông lệ quốc tế trong hoạt động mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp, cải thiện hệ thống thông tin tín dụng và mức độ sẵn có cũng như chất lượng của  thông tin tín dụng.

Như vậy, mặc dù đã có những cải cách lớn song những cố gắng này của Việt Nam lại chưa thể theo kịp với tốc độ của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Phi và nước phát triển. Theo nhóm chuyên gia môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, chỉ số môi trường kinh doanh năm 2015 của Việt Nam theo cách tính mới sẽ tụt xuống vị trí 78 thay vì ở mức 72 vào năm 2014.

"Những năm gần đây, Châu Phi và các nước phát triển đã có nhiều cải cách đến chỉ số môi trường kinh doanh. Trong khi đó, nhìn lại khoảng cách giữa Việt Nam và các nước này đang ngày càng xa hơn. Chính vì thế, cắt giảm chi phí, thời gian và rủi ro cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, bảo vệ nhà đầu tư, tiếp cận tín dụng...cần được cải cách hơn nữa." - TS Nguyễn Đình Cung thẳng thắn thừa nhận.

(T.Hương)