Cơ chế tài chính đặc thù cho Thủ đô: Còn ý kiến trái chiều!

Góp ý dự thảo Luật Thủ đô, đa số ý kiến đồng tình với việc dành một số cơ chế, chính sách đặc thù cần thiết để tạo điều kiện cho Thủ đô làm tốt vai trò là đầu não của một quốc gia nghìn năm văn hiến. Tuy nhiên, hiện vẫn có nhiều ý kiến trái chiều về tỷ lệ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương với ngân sách Thủ đô, cũng như việc quy định mức thu một số loại phí.

Ảnh: B.M.Ảnh: B.M.

Giữ lại tối thiểu 50% khoản thu phân chia?

Điều 16 dự thảo Luật Thủ đô quy định Thủ đô được giữ lại tối thiểu 50% các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách Thành phố, bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đơn vị hạch toán toàn ngành; được sử dụng toàn bộ khoản thu ngân sách Trung ương vượt kế hoạch hàng năm theo quy định của pháp luật để đầu tư xây dựng, phát triển Thủ đô.

Nghị định số 123/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thủ đô về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Hà Nội chỉ có duy nhất một quy định tại Điều 3 về thưởng 30% số tăng thu ngân sách Trung ương so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách Thành phố Hà Nội, chưa có cơ chế ưu tiên về đặc thù tài chính cho đô thị, chưa có cơ chế phân công, phân cấp mạnh cho Thủ đô về đầu tư, quản lý dân cư và nhà đất…

Phản biện lại quy định này, đại diện Bộ Tài chính và một số ý kiến khác cho rằng không nên quy định mức phân chia 50% như vậy vì quy định này ảnh hưởng đến nguồn để cân đối chung cho các địa phương khác và trái với quy địnhc ủa Luật Ngân sách Nhà nước (theo Luật Ngân sách Nhà nước thì tỷ lệ điều tiết được xác định trên cơ sở phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với các địa phương và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định vào năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách). Hơn nữa, quy định “bao gồm cả thuế TNDN đơn vị hạch toán toàn ngành” cũng không phù hợp với đặc điểm, tính chất của nguồn thu này vì đây là khoản thu không chỉ phát sinh tại Hà Nội mà phát sinh trên toàn quốc.

Tuy nhiên, Ban Soạn thảo dự thảo Luật Thủ đô vẫn cho rằng việc quy định tỷ lệ cố định tối thiểu và điều tiết thuế TNDN đơn vị hạch toán toàn ngành cho ngân sách Thủ đô là cần thiết, bởi 2 nguyên do:

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật Ngân sách Nhà nước thì Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách từng địa phương. Trên thực tế, tỷ lệ phân chia này là 45% - 55%. Tuy nhiên, tỷ lệ này được áp dụng chung cho tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước, chưa tính đến các yếu tố đặc thù của đô thị và chưa đáp ứng yêu cầu chi cho xây dựng, phát triển của thành phố Hà Nội với tư cách là Thủ đô của một quốc gia. Chính vì vậy, dự thảo Luật quy định mức điều tiết từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương tối thiểu phải là 50% nhằm tạo căn cứ pháp lý ở tầm luật để tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Thủ đô, đáp ứng vị trí, vai trò của Thủ đô Hà Nội.

Sau 9 năm thực hiện Pháp lệnh Thủ đô (có hiệu lực thi hành từ ngày 3/2/2010), Hà Nội đã đạt nhiều thành tựu rất quan trọng: kinh tế liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng cao theo hướng ổn định, bền vững (GDP đạt 11% giai đoạn 2000 – 2005, đỉnh cao là 12,1% giai đoạn 2006 – 2008), giáo dục đào tạo từng bước được chuẩn hoá (đến 2009 có 480/2.436 trường các cấp đạt chuẩn quốc gia)…

Thứ hai, tỷ lệ phân chia tối thiểu 50% này cần bao gồm cả thuế TNDN đơn vị hạch toán toán ngành. Hiện có 6 doanh nghiệp hạch toán toàn ngành có trụ sở tại Thủ đô nhưng chỉ 1 đơn vị (Tổng Công ty Viễn thông quân độ - Viettel) đang được điều tiết cho ngân sách Thủ đô, còn 3 ngân hàng thương mại Nhà nước, doanh nghiệp ngành bưu điện và điện lực thì chưa được điều tiết thuế TNDN cho ngân sách Thủ đô. Do vậy, việc điều tiết cho ngân sách Thủ đô khoản thuế TNDN của 5 đơn vị hạch toán toàn ngành có trụ sở ở Hà Nội nêu trên và các đơn vị khác (trong tương lai) là cần thiết nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời, việc này cũng phù hợp với tiến trình tổ chức thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp, phù hợp nguyên tắc thực hiện nộp thuế TNDN ở nơi có trụ sở chính hoặc trụ sở đơn vị hạch toán toàn ngành. Phần tăng thu ngân sách Thủ đô từ nguồn này chủ yếu để hỗ trợ đầu tư xây dựng, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các huyện, thị xã, vùng nông thôn của Hà Nội.

Quy định điều tiết TNDN đơn vị hạch toán toàn ngành đóng trụ sở trên địa bàn Thủ đô cho ngân sách Hà Nội cũng góp phần thể chế hoá tinh thần “Cả nước vì Thủ đô - Thủ đô vì cả nước” đã được thể hiện trong Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị: “Xây dựng và bảo vệ Thủ đô Hà Nội là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân”.

Một số loại phí được thu gấp 3 – 5 lần mức chung

Theo quy định hiện hành, UBND Thành  phố Hà Nội có thẩm quyền trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định các mức thu phí, lệ phí, khoản đóng góp, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi theo quy định của pháp luật, phù hợp với đặc thù của Thủ đô và khả năng cân đối ngân sách Thành phố. Tuy nhiên, chưa nêu rõ mức thu bao nhiêu đối với loại phí nào và áp dụng ở khu vực nào.

Để khắc phục bất cập này, khoản 1 Điều 18 – Phương án 1 của dự thảo Luật Thủ đô quy định Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quy định mức thu một số loại phí trong khu vực nội đô cao hơn nhưng không quá 3 lần so với mức chung áp dụng cho cả nước trong 3 lĩnh vực xây dựng, môi trường, giao thông ở khu vực nội đô.

Cũng theo dự thảo Luật Thủ đô, Điều 21 cho phép Chính quyền Thủ đô quy định mức phạt tiền cao hơn gấp 5 lần so với mức phạt áp dụng chung trên phạm vi cả nước đối với mọi hành vi lấn chiếm, sử dụng đất trái mục đích.

Ngày 23/7/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Ban Soạn thảo dự án Luật Thủ đô gồm 21 thành viên. Dự thảo Luật Thủ đô gồm 4 chương, 36 điều, cụ thể: Chương 1 - Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 9); Chương 2 – Xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ Thủ đô (từ Điều 10 đến Điều 29); Chương 3 – Trách nhiệm xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ Thủ đô (từ Điều 30 đến Điều 34); Chương 4 - Điều khoản thi hành (Điều 35, Điều 36).

Theo đề nghị của Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 883/2010/UBTVQH12 ngày 9/2/2010 đưa dự án Luật Thủ đô và Chương trình chính thức năm 2010 để xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5 – 6/2010) của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII.

Ban Soạn thảo viện dẫn rằng quy định này cần thiết và hợp lý. Bởi vì Thủ đô Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều vấn đề bức xúc tồn tại nhiều năm và đang có xu hướng ngày càng nan giải, đặc biệt như tình trạng ùn tắc giao thông, úng ngập, đất công bị lấn chiếm, ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực không phân biện nông thôn – thành thị, thành phố lớn có đông dân – thành phố nhỏ ít dân. Quy định này chưa tính đến đặc thù quản lý đô thị và giá đất rất cao ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, cũng như mức độ hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra ở những khu vực có mật độ dân cư rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý đất đai mà lấn chiếm, sử dụng đất trái mục đích đang là những hành vi vi phạm phổ biến, gây bức xúc trong dư luận, gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước.

Ban Soạn thảo cho rằng quy định này sẽ tạo thuận lợi cho Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội trong việc quy định các mức thu đối với từng loại phí cụ thể, đồng thời tránh đặt ra mức thu phí quá cao trên địa bàn Thủ đô.

Những kiến nghị nâng mức thu vừa nêu đang được Ban Soạn thảo Luật Thủ đô xin ý kiến của Chính phủ.

(Bình Minh)