Để "4 mũi nhọn công nghiệp hóa" tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng

Công nghiệp máy nông nghiệp, công nghiệp môi trường, công nghiệp điện tử và chế biến nông thủy sản là những ngành trọng điểm, nằm trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cần phải đẩy mạnh trong thời gian tới.

Hội thảo Chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.Hội thảo Chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Đây là một trong những nội dung được đề cập tại Hội thảo Chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
 
Năng lực còn yếu kém
 
Trong cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam, ngành sản xuất nông lâm ngư nghiệp chiếm 25% GDP vào năm 2000 và chiếm 21% vào năm 2010. Tuy nhiên, do bản thân GDP đang phát triển một cách nhanh chóng nên theo đà tăng trưởng của tổng sản lượng nông lâm ngư nghiệp, năm 2000 là 78 tỷ USD, đến năm 2010 đã tăng lên đến 220 tỷ USD. Đến năm 2020, cũng theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 thì để cs con số GDP bình quân đầu người đạt 3000 USD thì tỷ lệ thành phần GDP của nông nghiệp chiếm 15% thì cần phải đạt được tổng sản lượng lên tới 430 tỷ USD (gấp gần 2 lần trong vòng 10 năm).
 
Tuy nhiên, để đẩy tổng sản lượng lên cần phải tiến hành cơ giới hóa. Trong khi đó, do diện tích canh tác nhỏ, phân tán, giá máy móc nông nghiệp còn cao so với thu nhập của nông dân...Đối với việc mua máy móc nông nghiệp của nông dân, hiện nay, mặc dù có một số chính sách hỗ trợ như trực tiếp hỗ trợ nông dân thông qua ngân hàng phát triển nông thôn, hỗ trợ lãi suất vốn vay...nhưng vẫn chưa thực sự đem lại được hiệu quả cao.
 
Chính vì thế, định hướng đến năm 2020 là hiện đại hóa nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy ngành công nghiệp máy nông nghiệp phục vụ canh tác sản xuất lúa gạo, nâng cao năng suất sản xuất lúa gạo và góp phần cải thiện thu nhập cho người nông dân.
 
Đối với ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng, Chính phủ đã đặt ra định hướng sẽ phát triển ngành này trở thành ngành công nghiệp chủ lực, có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu xử lý ô nhiễm môi trường, sử dụng năng lượng bền vững. Thực tế, ngành công nghiệp môi trường đã và đang thu hút được sự quan tâm đầu tư phát triển của xã hội. Việt Nam, với dân số 90 triệu người, hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt hàng ngày đang tạo ra một khối lượng lớn chất thải rắn, nước thải và khí thải đòi hỏi ngành công nghiệp môi trường phải xử lý đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Mặt khác, cũng với dân số này, dự báo Việt Nam sẽ trở thành quốc gia nhập khẩu năng lượng để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Do đó, để phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang trở thành một yêu cầu cấp thiết dưới sức ép của nguồn cung năng lượng sơ cấp trong nước hạn chế và xu hướng tăng giá năng lượng trên toàn cầu, cũng như việc thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh... Ngành công nghiệp đóng một vai trò quan trọng bởi vì công nghiệp vừa là “người tiêu thụ” lượng năng lượng lớn như ngành: gốm, sứ, giấy, thép, xi măng... đồng thời vừa là “nhà sản xuất” các thiết bị tiết kiệm năng lượng.
 
Tuy nhiên, năng lực ngành công nghiệp môi trường vẫn còn yếu kém, đến nay mới đáp ứng 2-3% nhu cầu xử lý nước thải đô thị, 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn chất, khoảng 14% nhu cầu xử lý nước thai đô thị, 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn, khoảng 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Trong khi đó, kết quả thu hút các nguồn vốn đầu tư vào phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của xã hội. Còn lĩnh vực dịch vụ môi trường vẫn chủ yếu dựa vào kinh phí cấp từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ xử lý nước thải đô thị.
 
Cũng là một ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, hiện ngành công nghiệp chế biến nông, thủy sản đã có bước phát triển vượt bậc khi trong 5 năm trở lại đây đạt kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 2,2 lần. Tuy nhiên, mục tiêu tới đây cần nâng cao giá trị gia tăng bằng cách nâng tính an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc cải thiện niềm tin đối với thực phẩm chế biến của Việt Nam thông qua việc thực hiện triệt để VietGAP, truy xuất nguồn gốc và chuỗi giá trị sẽ là điều kiện tiền đề để nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông, thủy sản và thực phẩm chế biến.
 
Ngành công nghiệp điện tử phát triển nhanh với tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2002-2013 là 30%. Số lao động trong ngành này là trên 240.000 người. Cụ thể, năm 2011, 2012 tốc độ bùng phát hơn 100%/năm, các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là linh kiện, sản phẩm, thiết bị phần cứng, máy tính, điện tử, viễn thông. Có được kết quả này là nhờ các nguồn đầu tư tài chính đa dạng từ nhiều nguồn ngân sách nhà nước, đầu tư của các doanh nghiệp, các công ty đầu tư tài chính Dragon Capital, IFC...Trong đó phải kể đến làn sóng đầu tư của doanh nghiệp FDI như Intel, Foxcon, Samsung, Nokia...
 
Trong giai đoạn tới, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam với công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, đóng góp lớn cho kinh tế quốc dân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước...thể hiện qua việc có thể sản xuất được những sản phẩm điện tử có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa công nghệ, đạt tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
 
Tạo động lực thu hút đầu tư
 
Kế hoạch Thủ tướng phê duyệt tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển một cách đồng bộ và nhất quán, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn để thu hút đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, thu hút các nguồn vốn đầu tư, các công nghệ tiên tiến của nước ngoài tham gia.
 
Môi trường đầu tư bao gồm khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính, chính sách khuyến khích, ưu đãi của chính phủ và các yếu tố khác như thông tin, nhận thức của cộng đồng, năng lực thực hiện, giám sát thực thi các quy định đã ban hành... đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút đầu tư. Vì vậy, để thực hiện thành công Chiến lược công nghiệp hóa cần thiết phải hoàn thiện cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn để thu hút đầu tư. Các cơ chế, chính sách cần đồng bộ và nhất quán, được hình thành trên cơ sở có sự tham vấn của doanh nghiệp, vừa tạo được động lực thu hút đầu tư, vừa tạo được áp lực lên các cơ sở sản xuất để tạo cầu của thi trường tiêu thụ sản phẩm cho các nhà đầu tư.
 
Trên cơ sở môi trường đầu tư thuận lợi, cần công bố thông tin rộng rãi và tập trung thu hút được đầu tư của các doanh nghiệp tiềm năng. Cùng với đó phải huy động tối đa sự tham gia của các bên Chính phủ - doanh nghiệp - nhà khoa học và các chuyên gia vào quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá.
 
Đặc biệt, với riêng ngành công nghiệp điện tử, Chính phủ sẽ ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước để triển khai kế hoạch hành động, các nội dung xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu - phát triển, xúc tiến thương mại ngành công nghiệp điện tử. Ngân sách trung ương sẽ đảm bảo nguồn kinh phí để thực hện các nhiệm vụ, dự án thuộc phạm vi Kế hoạch được giao cho các Bộ và các cơ quan Trung ương chủ trì, các hoạt động chỉ đạo, điều hành triển khai...
 
(T.Hương)