Dự thảo Luật kế toán sửa đổi: Đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới

Luật kế toán đã  được Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004. Sau 10 năm thực hiện cho thấy đã đạt được những kết quả quan trọng song cũng còn những tồn tại hạn chế nhất định nên cần thiết sửa đổi trong tình hình mới.

Toàn cảnh buổi họp báo.Toàn cảnh buổi họp báo.

Thực hiện Nghị quyết số 45/2013/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán.

Chiều ngày 27/5, Bộ Tài chính đã tổ chức buổi họp báo chuyên đề để nói rõ hơn về những nội dung cơ bản liên quan đến Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kế toán.

Sửa đổi bổ sung 24 điều, 34 khoản

Tại buổi họp, ông Đặng Thái Hùng - Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán (Bộ Tài chính) cho biết, quá trình 10 năm qua, cho thấy Luật Kế toán đã được quy định khá chặt chẽ, nhiều nội dung Luật mang tính khoa học và thực tiễn cao, cho đến nay về cơ bản Luật Kế toán vẫn có giá trị, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước có sự biến đổi.

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, tuy nhiên Luật Kế toán và công tác kế toán ở Việt Nam cũng còn có những tồn tại, hạn chế nhất định. Những hạn chế, tồn tại trên do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Qua đánh giá những mặt được cũng như mặt hạn chế, nguyên nhân của hạn chế nêu trên cho thấy việc sửa đổi, bổ sung Luật Kế toán là hết sức cần thiết để tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về kế toán nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan trong việc tuân thủ quy định pháp luật về tài chính, để công tác kế toán thật sự trở thành một công cụ trong việc quản lý tài chính, vốn, tài sản của nhà nước, của doanh nghiệp, các đơn vị tài chính kế toán cũng như công cụ quản lý, giám sát của Nhà nước.

Đồng thời, nâng cao chất lượng của công tác kế toán, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới, trong đó có hội nhập về tài chính, kế toán.

Dự thảo Luật kế toán mới sửa đổi bổ sung 24 điều, 34 khoản trong đó tập trung vào nguyên tắc giá trị hợp lý, doanh nghiệp và dịch vụ kế toán, báo cáo tài chính nhà nước, nâng cao tính tuân thủ pháp luật kế toán và một số vấn đề khác.

Nói rõ hơn về nội dung nguyên tắc giá trị hợp lý, ông Đặng Thái Hùng cho biết,  nguyên tắc hạch toán đã  được quy định trong Điều 7 Luật Kế toán hiện hành, các nguyên tắc này vẫn có giá trị khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, ngoài việc hạch toán theo giá gốc, một số tài sản còn được hạch toán theo giá trị hợp lý. Cụm từ “Giá trị hợp lý” được tham chiếu theo thuật ngữ tiếng Anh “Fair Value”, và có ý nghĩa là hạch toán theo giá thực tế của tài sản đó.

Giá trị thực tế của tài sản cũng có nhiều cách đánh giá khác nhau và được chia thành các nhóm sau: Công cụ tài chính theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán phải ghi nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý; Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá theo tỷ giá giao dịch thực tế; Các tài sản hoặc nợ phải trả khác có giá trị biến động thường xuyên, theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán phải được đánh giá lại theo giá trị hợp lý.

Việc đánh giá giá trị tài sản và hạch toán theo giá trị thực tế có tính kỹ thuật cao; mặt khác trong điều kiện của Việt Nam có tài sản có thể đánh giá được theo giá trị thị trường, có tài sản chưa có điều kiện đánh giá được do điều kiện kinh tế thị trường của Việt Nam chưa hoàn chỉnh. 

"Việc áp nguyên tắc giá trị hợp lý là cấp bách. Nếu chỉ áp nguyên tắc giá gốc, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính sẽ xa rời thực tế." - ông Đặng Thái Hùng nhấn mạnh.

Vì vậy Chính phủ trình Quốc hội bổ sung Luật một số nội dung mang tính nguyên tắc: Các tài sản sau khi hạch toán theo giá gốc có thể được điều chỉnh lại theo giá trị hợp lý (giá trị thực tế); Đồng thời, có bổ sung phần giải thích từ ngữ “Giá trị hợp lý” để thống nhất cách hiểu và áp dụng luật.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định phân ra các nhóm tài sản để đánh giá theo giá trị hợp lý như đã báo cáo ở trên và giao cho Bộ Tài chính quy định cụ thể. Đối với các tài sản khác không nằm trong nhóm tài sản quy định trong Luật, trình Quốc hội giao cho Bộ Tài chính hướng dẫn khi hội đủ điều kiện (tức là khi có thể đánh giá lại theo giá thực tế).

Dự thảo Luật kế toán sửa đổi: Đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới ảnh 1
Ông Đặng Thái Hùng - Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán (Bộ Tài chính) trả lời câu hỏi của phóng viên.

Nghiêm cấm lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính

Điều 14 Luật Kế toán hiện hành đã quy định các hành vi bị cấm, tuy nhiên qua rà soát, Chính phủ đề nghị bổ sung thêm một số hành vi như: Cho thuê, cho mượn, đi thuê, đi mượn chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán dưới mọi hình thức; Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên; Hành nghề dịch vụ kế toán mà không đăng ký theo quy định của pháp luật; Sử dụng cụm từ “dịch vụ kế toán” trong tên gọi của doanh nghiệp khi chưa được Bộ Tài chính cấp phép trong các giao dịch;... nhằm đảm bảo bao hàm được tất cả các hành vi gian lận, sai phạm trong quá trình thực hiện luật, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý hành chính.

Hiện nay đối với các DN Việt Nam đang duy trì sổ kế toán báo cáo cơ quan Thuế và một sổ sử dụng nội bộ, và với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI cũng tồn tại 2 loại sổ là sổ báo cáo với nước sở tại và báo cáo theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. Nhưng hiện nay dự thảo Luật mới sẽ cấm lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên một số phóng viên cho rằng như vậy có thể sẽ khiến hoạt động của DN bị thắt chặt.

Chia sẻ với phóng viên về vấn đề chỉ được phép tồn tại duy nhất một hệ thống sổ kế toán tài chính, ông Đặng Thái Hùng cho biết, Dự thảo Luật sửa đổi đầu tiên có quy định cấm hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên để nhằm mục đích trục lợi. Tuy nhiên sau một số cuộc hội thảo đã có nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng nên bỏ vế thứ hai "để nhằm mục đích trục lợi" bởi có thể DN sẽ lợi dụng vào điểm đó để tiếp tục làm sai.

Đối với đơn vị trong nước để đảm bảo mục đích kiểm soát việc đóng thuế thì thực ra đấy không phải sổ sách kế toán tài chính. Mà sổ kế toán tài chính là phải phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính. Còn những sổ khác là sổ phụ theo dõi từng mảng khác, phục vụ cho từng mục đích khác nhau. Đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI có báo cáo công ty mẹ, về nguyên tắc hệ thống sổ kế toán tài chính vẫn chỉ có một, bởi khi muốn báo cáo tài chính để phục vụ cho công ty mẹ  thì trên cơ sở một hệ thống thông tin tạo đã có, sẽ lập báo cáo kế toán theo nguyên tắc chuyển đổi, chứ không phải là lập hai sổ riêng biệt.

Trên thực tế, việc các DN, cơ quan lập hai hoặc nhiều hệ thống sổ kế toán để “phục vụ” các đối tượng khác nhau (hệ thống kế toán phục vụ mục đích quản lý nội bộ khác với hệ thống để đối phó với cơ quan thuế, cơ quan thanh tra kiểm toán…) diễn ra khá phổ biến, dù hành vi này đã bị nghiêm cấm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng đây là lần đầu tiên quy định cấm đối với hành vi này được luật hóa.

(T.H)