Đừng chỉ coi EVFTA như phương tiện tăng mức cơ cấu kinh tế

Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) sẽ thúc đẩy đầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó, đẩy mạnh năng suất và tăng đầu ra trong nhiều ngành sản xuất.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.
Đó là một trong những kết luận của Nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đối với Việt Nam trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường do Dự án Hỗ trợ Chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) được đưa ra ngày 7/3.
 
Tận dụng cơ hội để vượt qua thách thức từ FTA
 
Sau 6 vòng đàm phán kể từ tháng 6/2012, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) dự kiến sẽ ký kết Hiệp định FTA vào tháng 9/2014.
 
Theo kết quả nghiên cứu ban đầu, EVFTA đem lại những lợi ích bền vững cho cả hai bên, trong đó, phần lợi ích của Việt Nam là nổi trội hơn. Chỉ riêng việc cắt giảm thuế quan sẽ làm tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU lên khoảng 30-40%, cao hơn mức tăng xuất khẩu trong trường hợp không có Hiệp định. Các ngành có khả năng hưởng lợi nhiều nhất từ FTA bao gồm dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm, trong đó có thủy sản. Khu vực dịch vụ theo kỳ vọng cũng mở rộng đáng kể nhờ FTA, và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế. Ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường được coi là không đáng kể. Ngoài ra, Hiệp định được kỳ vọng là có tác động tích cực đến giảm nghèo. Số liệu từ nhóm nghiên cứu cho thấy, xuất khẩu của Việt Nam sang EU ước tính sẽ tăng thêm 75% đến năm 2012 cho dù Việt Nam và EU có ký FTA hay không. Tuy nhiên, kết quả của cuộc đàm phán sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 110%, đưa kim ngạch xuất khẩu toàn cầu của Việt Nam tăng từ 89% lên khoảng 93-94%.
 
Không chỉ mang lại lợi ích trong xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt Nam, sau khi EVFTA được ký kết, nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng, dù vậy, khả năng cao là với thuế suất được giảm, Việt Nam sẽ tăng nhập khẩu máy móc thiết bị từ EU thay vì các nước có nền công nghệ kém hơn.
 
Theo ông Jean - Jacques Bouflet, Tham tán công sứ, Trưởng ban Kinh tế - Thương mại, Phái đoàn Liên minh châu Âu EU tại Việt Nam, Hiệp định FTA cũng sẽ bảo vệ tốt hơn các nhà đầu tư của hai bên. Sau khi Hiệp định được ký kết, FDI từ các nước EU và các quốc gia đối tác khác vào Việt Nam nhiều khả năng sẽ tăng lên. Nhờ có FTA EU – Việt Nam và những FTA khác mà Việt Nam đã ký kết, các nhà đầu tư sẽ thực sự coi Việt Nam như lãnh địa sản xuất để xuất khẩu sang EU và tất cả các nước đối tác thương mại của Việt Nam theo các FTA.”
 
Ngoài những lợi ích trên, Hiệp định EVFTA cùng với các Hiệp định Việt Nam đang đàm phán chắc chắn sẽ tác động đến thể chế và môi trường kinh doanh của Việt Nam. Cụ thể, cam kết cuối cùng trong FTA chắc chắn sẽ tác động khá lớn đến thể chế, bao gồm cả yêu cầu chặt chẽ về thực thi liên quan đến khiếu kiện vi pham, thể hiện trong các chương đầu tư, mua sắm Chính phủ doanh nghiệp nhà nước, cơ chế thực thi và chế tài xử phạt (dân sự, hành chính và hình sự).
 
Hiệp định cũng tác động đến môi trường kinh doanh thông qua những cam kết về Hải quan, các biện pháp tại biên giới, minh bạch hóa. Theo đó, Việt Nam sẽ phải sửa đổi và ban hành mới khá nhiều văn bản pháp luật như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đấu thầu, Luật mua sắm công, Luật cạnh tranh... và có thể cả Luật sở hữu trí tuệ.
 
Về môi trường kinh doanh, Chương Hải quan và những quy định về minh bạch hóa đặt ra yêu cầu cao hơn về cải thiện các biện pháp biên giới đi đôi với các thủ tục sau biên giới như thời gian tham gia và rút khỏi thị trường, thủ tục nộp thuế, tiếp cận đất đai, tiếp cận điện năng nhằm thuận lợi hóa thương mại. Phải nâng cao tính minh bạch và tính ổn định của pháp luật để các chủ thể kinh doanh có thể dự báo được trên cơ sở đó mà quyết định hướng đầu tư.
 
“Chỉ có thể tận dụng được cơ hội tạo thế và lực vượt qua thách thức mà FTA Việt Nam - EU cũng như các Hiệp định mậu dịch tự do khác mang lại khi có được môi trường đầu tư minh bạch thông thoáng làm giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy vậy, cũng cần có những hiểu biết đầy đủ về ECFTA và tác động của nó bởi nếu không sẽ dẫn đến yếu kém trong thực thi Hiệp định. Thực tế, chúng ta cần nhìn nhận EVFTA như một phương tiện nhằm thúc đẩy những thay đổi mang tính động hơn là tăng mức cơ cấu kinh tế hiện tại.” - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển khẳng định.
 
EU đưa nhiều tham vọng vào EVFTA
 
Trong các hiệp định gần đây, EU đã tự do hóa thị trường hàng hóa gần như là hoàn toàn cho các bên đối tác (CARIFORUM) hoặc duy trì mức bảo hộ dưới 1% kim ngạch thương mại như trường hợp của Hàn Quốc. Việc gỡ bỏ thuế quan thường tập trung vào các năm đầu và không kéo dài quá 10 năm đối với EU. Thực tế, EU đã thống nhất các mức độ tự do hóa khác nhau và các giai đoạn gỡ bỏ với các bên đối tác. Điển hình, Hiệp định khiêm tốn nhất là trường hợp ký với CARIFORUM, trong đó lộ trình tự do hóa kéo dài 25 năm và chỉ đạt 87% thương mại của đối tác. Hiệp định tham vọng nhất được ký với Singapore, trong đó, hai bên thống nhất gỡ bỏ toàn bộ thuế quan muộn nhất là 5 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực.
 
Theo nhóm nghiên cứu, EU có vẻ như đang muốn đưa nhiều tham vọng vào FTA với Việt Nam, ở mức khoảng 95% các dòng thuế quan và thương mại sẽ được tự do hóa trong vòng 7 năm. Việt Nam cũng có những bước tiến dài về tự do hóa thương mại trong các hiệp định khu vực và đa phương, cũng như trong WTO. Phạm vi tự do hóa thương mại cũng khá tương đồng trong các FTA khác nhau. Nhìn chung, Việt Nam cam kết tự do hóa 90% thương mại và duy trì hoàn toàn hoặc một phần các dòng thuế quan khác.
 
Thực tế, theo một phân tích so sánh về phạm vi tự do hóa trong các FTA đã ký kết của cả Việt Nam và EU của các chuyên gia cho thấy: Đối với Việt Nam, mức độ tự do hóa đề xuất cũng gần giống như các cam kết của Hiệp định GATS, sau khi gia nhập WTO. Đối với EU, mức độ cam kết còn vượt quá GATS. Ngoài gỡ bỏ thuế quan và các cam kết trong lĩnh vực dịch vụ, EU ngày càng có nhiều tham vọng về phạm vi các hiệp định ký kết, đưa vào các vấn đề như tiêu chuẩn lao động, mua sắm chính phủ, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp thuận lợi hóa thương mại và hải quan…Ngoài ra, EU sẽ tìm cách bảo vệ Chỉ dẫn địa lý (GI), khác với hệ thống nhãn hiệu như được đàm phán trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cũng như tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ đúng với những gì mà Việt Nam đã cam kết trong nghi thức gia nhập.
 
“Tuy nhiên, quan ngại hàng đầu của Việt Nam là về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) mà EU đang áp dụng, theo đó, Việt Nam cần tham vấn nhiều hơn khi ra quyết định liên quan đến các quy tắ này, đồng thời xây dựng năng lực đễ hỗ trợ đáp ứng các tiêu chuẩn mới. Thêm nữa, Việt Nam cũng cần quan tâm đến việc đàm phán hiệp định công nhận chung về chất lượng và tiêu chuẩn, từ đó, khung thể chế của Việt Nam cũng cần được hỗ trợ để giới thiệu về các thủ tục của EU đến doanh nghiệp.” - Nhóm các chuyên gia Dự án EU - MUTRAP khuyến nghị.
 
(T.Hương)