EVFTA: Cơ hội và thách thức cho DN xuất khẩu chủ lực

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và EU khi được ký kết sẽ mang lại lợi ích cũng như thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực nói riêng. 
Ông Lê Văn Dành, Giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai, khai mạc hội thảo.
Ông Lê Văn Dành, Giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai, khai mạc hội thảo.

EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 2 và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực sang EU là giày dép, dệt may, nông sản, đồ gỗ, hải sản... Đến nay, Việt Nam và EU đang tiến gần đến việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và EU (EVFTA). Hiệp định sẽ mang lại lợi ích cũng như thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng.

Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt những tác động khi Hiệp định Việt Nam và EU (EVFTA) được ký kết, từ đó doanh nghiệp Đồng Nai có chiến lược tăng cường phát triển và mở rộng xuất khẩu tại thị trường này. Thực hiện chương trình Xúc tiến thương mại Đồng Nai năm 2015, với sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP), Sở Công Thương Đồng Nai tổ chức Hội thảo “Đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) - Những vấn đề cần quan tâm”.

Tham dự hội thảo là đại diện các sở ban ngành và các hiệp hội doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường EU của tỉnh Đồng Nai và các tỉnh lân cận. Đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng và các cơ quan nghiên cứu trình bày tham luận về những vấn đề cần lưu ý trong Hiệp định FTA VN-EU, tác động về khía cạnh thể chế và pháp lý của Hiệp định, và đặc biệt đánh giá tác động đối với 3 ngành hàng quan trọng của tỉnh Đồng Nai là nông sản, da giầy và gỗ. 

Cơ hội sau EVFTA

Đánh giá về tiềm năng của khu vực EU, TS. Claudio Dordi, Trưởng Nhóm tư vấn kỹ thuật Dự án EU-MUTRAP cho biết: EU là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Mặc dù tăng trưởng được dự báo chậm, song EU vẫn là nền kinh tế lớn nhất với GDP/người ở mức 25.000 Euro, 500 triệu người tiêu dùng, và có  khối lượng trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhiều nhất thế giới. Bên cạnh đó, EU cũng đứng đầu về đầu tư quốc tế cả hai chiều (45,5% đầu tư ra bên ngoài và 34% đầu tư vào EU). EU có độ mở cao nhất với các nước đang phát triển. Ngoài nhiên liệu, EU nhập khẩu từ các nước đang phát triển nhiều hơn so với từ Mỹ , Canada, Nhật Bản và Trung Quốc cộng lại. Năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường EU với tổng kim ngạch gần 28 tỷ USD và nhập khẩu trở lại với giá trị tương ứng là hơn 23 tỷ USD.

Đáng chú, các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực sang EU là giày dép, dệt may, thủy hải sản... kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 6 tỷ Euro, tuy nhiên, nhóm giày dép đang chịu mức thuế bình quân là 11,9%, dệt may và thủy hải sản đang lần lượt chịu mức thuế là 9,6% và 5,69%.

EVFTA: Cơ hội và thách thức cho DN xuất khẩu chủ lực ảnh 1
TS. Claudio Dordi, Trưởng Nhóm tư vấn kỹ thuật Dự án EU-MUTRAP.

Cụ thể, ngành da giày - túi xách Việt Nam đóng góp gần 8,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và góp phần làm tăng GDP và cân bằng cán cân thương mại. Ngành đứng thứ 5 trong số các ngành xuất khẩu lớn nhất của Việt nam. Các khu vực sản xuất lớn nhất tập trung tại Hải phòng, Hải dương, HCM, Bình dương, Đồng nai. Cơ cấu xuất khẩu của nhóm hàng này được chia 35% cho  thị trường EU, đứng thứ 2 là Mỹ (32,8%), Nhật (5,2%), Trung Quốc (4,9%).

Năm 2014 thị trường EU đứng đầu các nước nhập khẩu giầy dép từ Việt Nam với trị giá 3,52 tỷ USD, tăng 17,3% so với năm 2013 và chiếm tới 34% tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam. Trong số 16/28 nước thuộc EU nhập khẩu giầy dép từ Việt Nam, nước nhập khẩu lớn nhất trong EU là Bỉ đạt 659,45 triệu USD, tăng 27,7%; Đức đạt 601,57 triệu USD, tăng 31,2%; Anh đạt 577,64 triệu USD, tăng 5,4%. Trong đó Bỉ, Đức, Hà Lan là các nước có tỷ lệ tái-xuất khẩu cao sang các nước thứ
ba.

Sở dĩ năm 2014, xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sang EU tăng trưởng nhanh là nhờ từ 1/1/2014 mặt hàng giầy dép Việt Nam được hưởng Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU có hiệu lực trong 3 năm (1/1/2014 -31/12/2016), với thuế suất giảm 3 - 4% từ mức trước đó 13 - 14%, tạo lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam so với sản phẩm của Trung Quốc và các nước khác.

Chia sẻ về cơ hội phát triển của ngành da giày - túi xách, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng Thư ký Hiệp hội Da – Giầy – Túi xách Việt Nam (LEFASO) cho hay: Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giầy dép lớn nhất thế giới, là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới (về trị giá) thứ 2 về số lượng sau Trung Quốc và Italia. Với lợi thế là được hưởng “Chương trình Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cùng lợi thế về lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ (trung bình 181 USD/tháng), bằng khoảng một nửa so với Trung Quốc... Các doanh nghiệp đã ý thức được sự cần thiết đáp ứng các yêu cầu về tổ chức sản xuất, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, duy trì và phát triển quan hệ bạn hàng, đáp ứng các yêu cầu vệ sinh, môi trường và nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Hiện ngành sản xuất giày dép của thế giới tiếp tục xu hướng chuyển dịch đầu tư sang các nước đang phát triển, đặc biệt hướng vào các nước có môi trường kinh doanh thuận lợi, chính trị ổn định, trong đó có Việt Nam. 

Khi EVFTA có hiệu lực, hàng rào thuế quan đối với giầy dép Việt Nam nhập khẩu vào EU sẽ giảm dần về 0% theo lộ trình, Việt Nam sẽ có cơ hội lớn để tăng kim ngạch và thị phần xuất khẩu tại EU. Dự kiến tăng gấp đôi lượng kim ngạch hiện nay. Nhờ đó giúp tăng khả năng cạnh tranh so với các nước – thu hút nhiều đơn hàng, tạo ra nhiều công ăn việc làm, sử dụng nhiều lao động. Về khía cạnh thu hút đầu tư nước ngoài,với việc ký kết EVFTA và TPP, nhiều nhà đầu tư nước ngoài khác cũng đang có động thái tìm hiểu khả năng đầu tư sản xuất giầy dép tại Việt Nam đón đầu các FTA để hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu. Dù chưa ồ ạt nhưng doanh nghiệp FDI có thể triển khai rất nhanh, nhờ có tiềm lực mạnh về tài chính. Với dân số trẻ, lương tối thiểu thấp hơn Trung Quốc và năng suất lao động trong ngành da giầy tại Việt Nam tương đối ngang bằng so với các nước trong khu vực, cộng với việc nhìn thấy lợi ích từ EVFFTA và cả TPP, trong đó có Mỹ và Nhật Bản, Việt Nam có điều kiệu thu hút đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, hiện các doanh nghiêp da giầy chủ yếu vẫn nhập nguyên phụ liệu đầu vào. Nay với EVFTA và các FTA khác, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư phát triển sản xuất nguyên phụ liệu để hưởng ưu
đãi theo xuất xứ, nhờ đó Việt Nam có thể cải thiện được nguồn cung nguyên phụ liệu trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm. Đây là cơ hội lớn, giúp ngành da giày khắc phục điểm yếu là phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Thách thức...

Bên cạnh thuận lợi, thách thức đặt ra cho ngành da giày - túi xách Việt Nam chính là tỷ lệ sản xuất gia công cao (70%) nên lợi nhuận thấp và hạn chế sự năng động của DN, công tác tiếp thị, phát triển thị trường, thiết kế mẫu mã, phát triển sản phẩm yếu kém. Mặt khác, các rào cản kỹ thuật áp đặt từ phía EU, cùng với các yêu cầu về trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường, tuân thủ các thủ tục để được hưởng lợi thế FTA làm tăng chi phí cho doanh nghiệp. Trong khi đó, hiện tỷ lệ nội địa hóa trên sản phẩm xuất khẩu chỉ đạt 40%, công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển nên nguyên phụ liệu (gồm cả da thuộc, vải làm giầy, đế giầy) phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài trên 60%, chủ yếu từ Trung Quốc. Chi phí đầu vào cao (điện, nước, nguyên phụ liệu, vận tải...), Chi phí nhân công tăng cao do sức ép tăng tiền lương tối thiểu hàng năm (năm 2014 tăng 17%, năm 2015 tiếp tục tăng 15%).

Với sản lượng xuất khẩu chiếm đến 75% nên các doanh nghiệp FDI sẽ được hưởng lợi nhiều nhất khi có EVFTA, do đã đầu tư cả nhà máy thành phẩm và sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất. Trong 20% doanh nghiệp lớn của ngành da giày hiện nay, chỉ có vài doanh nghiệp Việt Nam.

Khó khăn càng chồng chất khi mà hiện các chính sách hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ cho doanh nghiệp không còn phù hợp với quy đinh của EVFTA. Việc hỗ trợ chỉ có thể thông qua đào tạo nguồn nhân lực và chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ, trong đó có ưu đãi về thuế, giá thuê đất, lãi suất vay ngân hàng… Tuy nhiên đến nay Bộ Công Thương vẫn còn trong giai đoạn lấy ý kiến về dự thảo Nghị định phát triển công nghiệp hỗ trợ. Các chính sách về đào tạo nguồn nhân lực ngành da giầy cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.

Chính vì thế, để hưởng lợi tối đa từ EVFTA, ông Claudio Dordi khuyến nghị DN Việt Nam cần đảm bảo quy tắc xuất xứ và hàm lượng nội địa hóa; Tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật và vệ sinh; Cải thiện năng lực thể chế; Hỗ trợ các thương hiệu quốc gia, khả năng xuất khẩu và phân phối..."Giảm thuế là chưa đủ, Việt Nam cần “nắm bắt” phần giá trị gia tăng lớn hơn từ việc tạo lập một thương hiệu quốc gia thân thiện với môi trường và xã hội (người tiêu dùng EU) thông qua các kênh phân phối tại EU. Thêm nữa DN cần lường lường trước những điều chỉnh xuất phát từ FTA với EU (lao động, môi trường, quyền  SHTT... Các bạn cũng cần lưu ý: EU không phải là mục tiêu duy nhất, đặc biệt khi Việt Nam là một trong những nước hội nhập nhất trên thế giới. Thị trường nội địa sẽ được hưởng lợi từ cải cách thể chế."

(T.Hương)